Các doanh nghiệp còn hạn chế trong việc sử dụng công cụ phòng vệ thương mại

Có một thực tế hiện nay là các biện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam hầu như chưa được sử dụng, kể cả khi hàng hoá ngoại nhập đang tràn lan thị trường nội địa, khiến một số ngành sản xuất trong n

Các biện pháp phòng vệ thương mại là những công cụ được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) cho phép các nước thành viên sử dụng một cách hợp pháp, trên cơ sở phải tuân thủ các hiệp định về chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ của WTO. 

Trong số 3 biện pháp trên, chống bán phá giá và chống trợ cấp là các công cụ mà các nước thường sử dụng để chống lại các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài, do có hành vi bán dưới giá thông thường hoặc bán hàng hóa có trợ cấp của chính phủ nước xuất khẩu. Các biện pháp này thường được áp dụng cho 5 năm và có thể gia hạn tiếp, nếu kết luận điều tra cho thấy hàng hóa nước ngoài nhập khẩu tiếp tục được bán phá giá hoặc có trợ cấp của chính phủ. Như vậy, đây không phải là những biện pháp tạm thời. Còn đối với biện pháp tự vệ, các nước nhập khẩu thường sử dụng trong trường hợp hàng hóa nước ngoài có số lượng hoặc kim ngạch nhập khẩu tăng đột biến trong một khoảng thời gian ngắn, dẫn đến nguy cơ gây thiệt hại hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng tới ngành sản xuất trong nước có sản phẩm cùng loại, hoặc tương tự sản phẩm nhập khẩu, nên đây chính là biện pháp để bảo vệ sản xuất trong nước một cách tạm thời. Trong trường hợp cấp thiết, có thể áp dụng bằng cách tăng thuế, hoặc cấm nhập khẩu ngay từ khi công bố quyết định điều tra. Tuy nhiên, nếu kết luận điều tra cho thấy không có lý do để áp dụng biện pháp tự vệ thì phải dỡ bỏ các biện pháp này. 

Khi năng lực cạnh tranh của sản phẩm cùng loại sản xuất trong nước thấp hơn của sản phẩm nhập khẩu, thời hạn áp dụng biện pháp này là 4 năm cho lần đầu áp dụng và 6 năm cho lần thứ hai áp dụng đối với nước đang phát triển. Đối với các nước phát triển, thời hạn áp dụng lần hai chỉ là 4 năm. Thông thường, các nền kinh tế phát triển ít khi sử dụng biện pháp tự vệ, do năng lực cạnh tranh hàng hóa của họ cao hơn so với các đối tác thương mại. Trong những năm gần đây, chúng ta mới chỉ chứng kiến lần đầu Mỹ áp dụng biện pháp tự vệ đối với lốp xe tải của Trung Quốc năm 2009. 

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, kim ngạch nhập khẩu liên tục tăng nhanh hơn tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu, làm cho thâm hụt cán cân thương mại ngày một lớn. Trong số các mặt hàng nhập khẩu có kim ngạch lớn, không loại trừ có những mặt hàng được bán phá giá hoặc có trợ cấp của chính phủ nước ngoài, gây sức ép cạnh tranh cho sản phẩm, doanh nghiệp sản xuất trong nước. Các biện pháp phòng vệ thương mại trên cũng đã được chúng ta bước đầu áp dụng, đã hình thành Cơ quan hành chính chuyên trách về vấn đề này, đó là Cục Quản lý cạnh tranh, trực thuộc Bộ Công Thương và thực tế đã thực hiện điều tra vụ kiện tự vệ đầu tiên đối với kính nổi. Tuy nhiên, các biện pháp phòng vệ thương mại tại Việt Nam hầu như chưa được sử dụng như một công cụ cần thiết, kể cả khi hàng ngoại nhập đang tràn lan thị trường nội địa, khiến một số ngành sản xuất trong nước điêu đứng và có nguy cơ “chết yểu”. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp, hiệp hội chưa hiểu biết đầy đủ về các công cụ phòng vệ thương mại mang tính đặc thù này và họ cũng chưa liên kết đủ mạnh để đại diện cho một ngành sản xuất theo quy định của pháp luật, đề nghị các cơ quan chức năng tiến hành điều tra các biện pháp khắc phục thương mại. Hạn chế của các doanh nghiệp và hiệp hội của Việt Nam là họ ít chú ý đến thị trường nội địa và chưa chú ý đến việc bảo vệ thị trường nội địa trước sự xâm nhập của hàng hoá nước ngoài. Nhất là khi xảy ra các vụ kiện, các doanh nghiệp, hiệp hội lại thiếu thông tin để tranh kiện, thiếu nguồn kinh phí để chi cho các khoản khởi kiện và theo kiện. 

Theo ông Vũ Bá Phú - Phó cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh, để áp dụng hiệu quả các công cụ phòng vệ thương mại, giúp ngành sản xuất non trẻ trong nước phát triển thì cơ quan chức năng cần phải có trách nhiệm phối hợp cùng cơ quan truyền thông, hiệp hội ngành hàng để tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp về các công cụ này. Qua đó, sẽ giúp các doanh nghiệp hiểu rằng, đây là các công cụ chính sách, nhằm điều chỉnh luồng thương mại, chứ không phải là các công cụ bảo hộ sản xuất trong nước, nắm rõ nguyên tắc áp dụng để lựa chọn các công cụ phòng vệ thương mại thích hợp. Các doanh nghiệp Việt Nam có quyền yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước điều tra, áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nhập khẩu để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình trên thị trường nội địa, trước những hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nhập khẩu.