TÓM TẮT:
Thông tin bí mật và bảo hộ thông tin bí mật được quy định trong nhiều văn bản pháp lý quốc tế và quốc gia. Những văn bản này là nguồn luật không thể thiếu khi xem xét bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam. Bài viết tiếp cận vấn đề trên phương diện pháp luật quốc tế về thông tin bí mật và bảo hộ thông tin bí mật. Từ đó, bài viết phân tích vai trò của việc bảo hộ thông tin bí mật để đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể và thực hiện quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Từ khóa: Thông tin bí mật, bảo hộ thông tin bí mật, cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật quốc tế...
1. Thông tin bí mật và bảo hộ thông tin bí mật
1.1. Những cách hiểu về khái niệm thông tin bí mật theo pháp luật quốc tế
Trong các văn bản pháp luật quốc tế có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng nhằm quy định về thông tin bí mật là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
* Thông tin bí mật (Undisclose Information) là thuật ngữ lần đầu tiên được sử dụng trong Hiệp định TRIPs về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994. Cụ thể Khoản 2 Điều 39 Mục VII Hiệp định TRIPs quy định: “Các thành viên phải bảo hộ thông tin bí mật… các dữ liệu được nộp cho chính phủ hoặc các cơ quan chính phủ”. Tuy nhiên, Hiệp định TRIPs chỉ đề cập thông tin bí mật theo phương diện là đưa ra các tiêu chí để được bảo hộ chứ không hề nêu rõ khải niệm và giải thích về thông tin bí mật. Đến năm 1997, Tổ chức sSở hữu trí tuệ thế giới (WIPO - World Intellectual Property Organaization) hướng dẫn thực hiện Hiệp định TRIPs. Theo WIPO, thông tin bí mật có thể được gọi là “bí mật thương mại”.
*Bí mật thương mại (Trade Secret) là “bất kỳ thông tin kinh doanh bí mật nào cung cấp cho doanh nghiệp một ưu thế cạnh tranh đều được coi là bí mật thương mại. Những bí mật thương mại bao gồm bí mật về sản xuất về công nghiệp và những bí mật về kinh doanh”.1 Bên cạnh đó, theo Luật Bí mật thương mại Mỹ năm 1979 (sửa đổi năm 1985, 1990) quy định tại khoản 4 Điều 1 như sau: “Bí mật thương mại là các thông tin bao gồm công thức, mẫu hình, sưu tập các thông tin, chương trình, phương sách, biện pháp, công nghệ hoặc quy trình”. Theo pháp luật Nhật Bản, bí mật thương mại là bất kỳ thông tin nào liên quan đến một phương pháp sản xuất, phương pháp bán hàng hoặc bất kỳ thông tin nào khác về công nghệ hoặc kinh doanh. Như vậy, pháp luật của các nước chú trọng việc giải thích thông tin bí mật với đối tượng là các quy trình, phương pháp… trong lĩnh vực kinh doanh.
* Thông tin mật (Confidential Information) là thuật ngữ được dùng trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ. Theo đó, bí mật thông tin bao gồm bí mật thương mại, thông tin đặc quyền và thông tin không bị tiết lộ khác chưa trở thành đối tượng được tiết lộ công khai không hạn chế theo pháp luật quốc gia của bên liên quan”.2 Hiệp định đã không nêu cụ thể khái niệm thông tin bí mật, mà chỉ liệt kê một cách khái quát các thông tin được gọi là thông tin bí mật.
*Bí mật kinh doanh (Business Secret) là thuật ngữ được sử dụng trong pháp luật sở hữu trí tuệ của Thụy Sĩ, Việt Nam… Khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 quy định: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng được sử dụng trong kinh doanh”. Theo đó, bí mật kinh doanh là tất cả các thông tin về hoạt động sản xuất - kinh doanh của các chủ thể.
Dựa vào việc nghiên cứu các thuật ngữ khác nhau ghi nhận về khái niệm thông tin bí mật có thể hiểu một cách khái quát như sau: Thông tin bí mật là các thông tin về lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, các thông tin về hoạt động sản xuất - kinh doanh. Trên thực tế loại thông tin được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau.
1.2. Bảo hộ thông tin bí mật theo quy định của điều ước quốc tế
Bảo hộ thông tin bí mật được hiểu một cách khái quát là việc nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế để xác lập, duy trì quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân đối với thông tin bí mật và bảo vệ quyền đó chống lại sự xâm phạm từ các chủ thể khác. Với sự phát triển hiện đại của khoa học kỹ thuật hiện nay, đối tượng được bảo hộ thông tin bí mật ngày cảng mở rộng hơn về phạm vi kèm theo nhu cầu về cơ chế phù hợp, rõ ràng để bảo hộ thông tin. Phạm vi các thông tin bí mật được bảo hộ sẽ được xác định theo các nhóm thông tin khác nhau.
Thứ nhất, các thông tin trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật gồm có: a) công thức sản xuất của sản phẩm; b) phương pháp sản xuất và bản mô tả kỹ thuật; c) kiểu dáng, bản vẽ, các đồ án kiến trúc, bản thiết kế và bản đồ; d) mã nguồn của các chương trình máy tính; e) dữ liệu thử nghiệm, sổ sách trong phòng thí nghiệm; f) bí quyết kỹ thuật, phương pháp thực hiện. Đây là các loại thông tin có vai trò quan trọng đến việc kinh doanh giữa các chủ thể cạnh tranh trong cùng một lĩnh vực nên nhóm thông tin này được bảo hộ bằng các quyền sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, các thông tin liên quan trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh gồm có: a) danh sách các nhà cung cấp, hợp đồng với nhà cung cấp; b) hồ sơ khách hàng, sở thích và yêu cầu của khách hàng; c) chiến lược tiếp thị và kinh doanh, chiến lược quảng cáo; d) kết quả nghiên cứu thị trường; e) kế hoạch và phương pháp bán hàng, phương pháp phân phối; f) ý tưởng khác trong kinh doanh. Đây là nhóm thông tin bí mật ảnh hưởng trực tiếp đến sự cạnh tranh giữa các chủ sở hữu thông tin bí mật trong các hoạt động kinh doanh. Vì vậy, việc xâm phạm nhóm thông tin này dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh giữa các chủ thể.
Thứ ba, các thông tin phủ định gồm có: a) tình trạng bế tắc trong nghiên cứu, các giải pháp kỹ thuật đã bị rút bỏ; b) thông tin về những nỗ lực không thành để giải quyết những vấn đề trong sản xuất sản phẩm; c) những nỗ lực bất thành trong việc thu hút khách hàng; d) nội dung các khiếu nại/tranh chấp được giải quyết kín giữa các bên; e) nguyên nhân thất bại trong nghiên cứu hoặc các hoạt động khác liên quan đến các hoạt động sản xuất - kinh doanh. Nhóm các loại thông tin này không ảnh hưởng trực tiếp đến cạnh tranh trên thị trường nhưng chúng có tầm quan trọng rất lớn trong việc tạo uy tín, vị thế của chủ sở hữu.
Thứ tư, các thông tin trong lĩnh vực tài chính gồm có: a) cơ cấu giá nội bộ; b) doanh số, lợi nhuận; c) danh mục giá; d) công nợ, chi phí; e) phương pháp, khấu hao; f) dự án hồ sơ đầu tư; g) chính sách hoa hồng, chiết khấu.
Và tất nhiên, không phải tất cả các thông tin bí mật trong thương mại đều được bảo hộ mà chúng phải đáp ứng các điều kiện bảo hộ. Điều kiện được bảo hộ của thông tin bí mật bao gồm: 1) Có tính chất bí mật; 2) Có giá trị thương mại vì nó có tính chất bí mật; 3) Được người kiểm soát hợp pháp thông tin đó giữ bí mật bằng các biện pháp hợp lý4. Tức là các thông tin này được biết đến một cách không phổ biến và không dễ dàng tiếp cận. Theo Hiệp định TRIPs, tính bí mật tạo nên giá trị thương mại của thông tin. Đó là các giá trị về kinh tế và giá trị cạnh tranh mà chủ thể nắm giữ thông tin bí mật.
2. Thực hiện quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thông qua việc bảo hộ thông tin bí mật theo quy định của pháp luật quốc tế
2.1. Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là một hiện tượng xã hội của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào trong nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh không lành mạnh là mặt trái của quá trình cạnh tranh. Tập quán thương mại, môi trường kinh doanh và các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia quyết định cách hiểu cạnh tranh không lành mạnh. Để ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh của các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận và đây không chỉ là một quyền trong thương mại mà còn là một quyền được bảo hộ bởi pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Dưới gốc độ pháp lý quốc tế, hành vi cạnh tranh không lành mạnh được giải thích cụ thể tại Công ước Paris 1967 về bảo hộ sở hữu công nghiệp. Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1967 tạo lập cơ sở chung nhất cho các thỏa thuận đa phương và song phương khác về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Cụ thể, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong các quyền sở hữu công nghiệp đã được ghi nhận trong Công ước Paris 1967 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Khoản 2 Điều 1 Công ước quy định “đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm patent (sáng chế), mẫu hữu ích (giải pháp hữu ích) kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh”. Và khoản 2 Điều 10bis quy định “bất cứ hành động nào trái với tập quán thương mại trung thực trong công nghiệp và thương mại đều coi là hành động cạnh tranh không lành mạnh”. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ5 bao gồm: a) hành vi gây ra sự nhầm lẫn (nhầm lẫn về chỉ dẫn, nhầm lẫn về kiểu dáng/hình dạng sản phẩm); b) khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại (gièm pha đối thủ cạnh tranh, quảng cáo so sánh); c) xâm phạm thông tin bí mật.
Tiếp tục với sự kế thừa và phát triển, Điều 39 Hiệp định TRIPs đã quy định “để bảo đảm chống cạnh tranh không lành mạnh một cách hữu hiệu các thành viên phải bảo hộ thông tin bí mật”. Đây là điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ có quy định chính thức đầu tiên về bảo hộ thông tin bí mật và vượt ra ngoài nghĩa vụ chung quy định tại Điều 10bis của Công ước Paris 1967. Theo đó, Hiệp định TRIPs đã quy định đã các loại thông tin bí mật được bảo hộ tại các nước theo thông luật (common law) bao gồm các án lệ chứ không phải là luật thành văn (statute law).6
2.2. Thực thi bảo hộ thông tin bí mật đảm bảo quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ
Thông tin bí mật là tài sản hợp pháp của chủ sở hữu nên việc bảo hộ thông tin bí mật cần có khung pháp lý quốc gia và quốc tế. Việc thực hiện quyền chống cạnh tranh không lành mạnh thông qua bảo hộ được thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, bảo hộ thông tin bí mật vẫn mang ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo đảm cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể tham gia sản xuất - kinh doanh.
Trong thực tiễn thương mại, các chủ thể sở hữu được càng nhiều thông tin bí mật càng dành được lợi thế trong cạnh tranh. Do đó, việc bảo hộ đối với thông tin bí mật có ý nghĩa quan trọng để tạo ra sự ổn định cho các hoạt động thương mại, duy trì nguyên tắc kinh doanh công bằng và trung thực. Xâm phạm thông tin bí mật trong thương mại là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được ghi nhận trong pháp luật của các quốc gia trên thế giới cũng như trong các điều ước quốc tế. Hành vi xâm phạm thông tin bí mật như chiếm đoạt, sử dụng thông tin bí mật trái với hoạt động thương mại trung thực là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Đó là những hành vi vi phạm hợp đồng thương mại, làm lộ bí mật và xui khiến người khác làm lộ bí mật, kể cả hành vi tiếp nhận thông tin bí mật nếu đã biết, hoặc do cẩu thả nên không biết rằng thông tin đó thu được bằng các hành vi trên.7
Về khía cạnh pháp lý, pháp luật quốc tế chỉ làm rõ về khái niệm, phạm vi, điều kiện của bảo hộ thông tin bí mật, còn các biện pháp thực hiện quyền này chỉ được ghi nhận quyền khiếu kiện tại tòa án. Tuy nhiên, Hiệp định TRIPs đã có nhiều cố gắng thiết lập khung pháp lý cơ bản về bảo hộ thông tin bí mật nhằm kiểm soát cạnh tranh trên thị trường sản xuất kinh doanh.
Thứ nhất, Hiệp định TRIPs quy định chi tiết về chuyển giao công nghệ (chuyển giao li-xăng) bắt buộc nhằm khống chế các hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp đồng li-xăng. Theo đó, Hiệp định thừa nhận rằng một số hoạt động hoặc điều kiện cấp li-xăng gắn liền với các quyền sở hữu trí tuệ có tính chất hạn chế cạnh tranh. Các quốc gia cụ thể hóa trong luật pháp quốc gia về các hoạt động hoặc điều kiện cấp li-xăng có thể bị coi là lạm dụng quyền sở hữu trí tuệ, gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động cạnh tranh trên thị trường. Từ đó, các quốc gia có thể áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn ngừa hoặc khống chế các hoạt động kiếm soát cạnh tranh bao gồm điều kiện cấp ngược (bên nhận cấp cho bên giao) li-xăng độc quyền, điều kiện nhằm ngăn cấm việc không thừa nhận hiệu lực và việc cấp li-xăng trọn gói. Các hệ thống pháp luật trên thế giới cũng như các điều ước quốc tế đã có những quy định ngăn chặn độc quyền trong cạnh tranh thông qua các quy định về chuyển giao li-xăng bắt buộc nhằm bảo đảm sự cân bằng giữa bảo hộ thông tin bí mật và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại giữa các chủ thể.
Thứ hai, Hiệp định TRIPs đã quy định các yêu cầu chung và hệ thống các biện pháp (biện pháp hành chính, dân sự, hình sự và các biện pháp kiểm soát biên giới) và các chế tài tương ứng thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, trong đó có hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ tạo ra cơ chế bảo hộ hiệu quả, trong đó có cơ chế bảo hộ thông tin bí mật. Khi phát hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến thông tin bí mật, các chế tài của cạnh tranh không lành mạnh sẽ được áp dụng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu thông tin bí mật.
Biện pháp hành chính là biện pháp mang đến tính hiệu quả tương đối cao trong việc xử lý và ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Trong phạm vi mà các thủ tục hành chính xử lý vụ việc có thể buộc áp dụng bất cứ biện pháp chế tài dân sự nào, các thủ tục đó phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản tương đương với những nguyên tắc quy định. Chế tài hành chính được áp dụng nhiều nhất đối với hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là buộc chấm dứt hành vi xâm phạm, tiến hành loại bỏ hàng hóa vi phạm ra ngoài kênh thương mại, tiêu hủy hàng hóa vi phạm… Đồng thời, các cơ quan có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp tạm thời để ngăn chặn các hành vi xâm phạm thông tin bí mật.
Biện pháp hình sự được áp dụng đối với các hành vi cố tình xâm phạm thông tin bí mật với quy mô thương mại. Yếu tố quy mô thương mại là yếu tố quyết định mức độ bảo hộ thông tin bí mật. Yếu tố lỗi vô lý được Hiệp định xem xét để loại trừ dần khả năng là hành động xâm phạm thông tin bí mật. Đó là việc phát hiện ra bí mật thương mại bằng việc áp dụng “kỹ thuật phân tích ngược”, tức là bằng việc bắt đầu từ sản phẩm đã được lưu hành và phân tích ngược trở lại để tìm hiểu phương thức tạo ra sản phẩm đó dựa trên những biện pháp công bằng và trung thực. Ngoài ra, chủ thể có quyền phát hiện ra bí mật thương mại khi khai thác các đối tượng theo hợp đồng chuyển giao công nghệ từ chủ sở hữu bí mật thương mại. Nếu trong quá trình sử dụng sản phẩm mà bên nhận chuyển giao phát hiện ra được bí mật thương mại của chủ sở hữu và có quyền sử dụng nó một cách hợp pháp. Hiệp định TRIPs không yêu cầu phải chứng minh về lợi nhuận bất hợp pháp của người thực hiện hành vi xâm phạm thông tin bí mật hoặc mức độ tổn thất nhất định của chủ thể chủ sở hữu của thông tin bí mật mà chỉ cần việc chủ thể cố ý thực hiện hành vi vi phạm với quy mô thương mại thì sẽ bị xử lý hình sự.
Như vậy, Hiệp định TRIPs không có các quy định cụ thể về việc thực thi quyền chống cạnh tranh không lành mạnh mà chỉ ghi nhận việc xây dựng các chế tài thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tức là dựa vào pháp luật quốc gia. Trong các điều ước quốc tế về quyền sở hữu trí tuệ trước khi có Hiệp định TRIPs, vấn đề thực thi quyền sở hữu trí tuệ được đề cập chủ yếu là biện pháp kiểm soát biên giới để xử lý hàng hóa xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Điều đó càng khẳng định rằng Hiệp định TRIPs là điều ước quốc tế đa phương đầu tiền quy định các nguyên tắc, các yêu cầu chung cho việc thực thi, các chế tài xử lý vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Và các biện pháp thực thi này cũng được áp dụng đối với các hành vi xâm phạm thông tin bí mật nhằm bảo hộ thông tin bí mật.
Pháp luật quốc tế ghi nhận quyền chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ nhằm tạo ra một cách thức để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là bảo hộ thông tin bí mật một cách hiệu quả và toàn diện nhất. Trên thực tế, việc áp dụng đơn thuần các quy định về bảo hộ không bảo vệ được đầy đủ quyền lợi của chủ sở hữu của thông tin bí mật. Bảo hộ thông tin bí mật và chống cạnh tranh không lành mạnh có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Thời điểm quyền sở hữu trí tuệ về thông tin bí mật bị xâm hại tạo ra bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của chủ sở hữu thì quyền chống cạnh tranh không lành mạnh cũng đồng thời phát sinh. Thực hiện bảo hộ thông tin bí mật chính là thực hiện quyền chống cạnh tranh không lành mạnh nhằm ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và ngược lại, chính các hành vi chống cạnh tranh không lành mạnh giúp bảo hộ thông tin bí mật trở nên hiệu quả trên thực tế.
3. Kết luận
Bảo hộ thông tin bí mật tạo động lực thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Thông tin được bảo hộ sẽ tạo ra minh chứng để khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và sáng chế. Việc bảo hộ thông tin bí mật còn có vai trò tạo nên sự ổn định cho các hoạt động thương mại. Bảo hộ thông tin bí mật trước các hành vi xâm phạm thông tin bí mật đồng thời với việc áp dụng các chế tài phù hợp đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong thương mại, tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh dựa theo nguyên tắc công bằng và trung thực trong thương mại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ quyền tác giả.
2. Công ước Paris năm 1967 về sở hữu công nghiệp.
3. Hiệp định TRIPs năm 1994 về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
4. Hiệp định thương mại Việt Nam - Hòa Kỳ năm 2001.
5. Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ năm 1992, hiệu lực năm 1994.
6. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005.
7. TS. Nguyễn Thái Mai, TS. Vũ Thị Phương Lan, 2013, Giáo trình pháp luật quốc tế về sở hữu trí tuệ, NXB Chính trị - Hành chính.
8. Implication of the trips agreement on treaties administered by WIPO 1997.
9. Professor Micheal Blakeney, Curriculum on intellectual property, University of London.
Legal elements for the protection of information concerning unfair competition in compliance with international legislation
NGUYEN HUU KHANH LINH – NGUYEN THI HANH
Faculty of International law – University of Law, Hue University
ABSTRACT:
Confidential information and the protection of confidential information are provided in many international and national legal documents. These documents are indispensable sources of law when considering the protection and enforcement of intellectual property rights in Vietnam. The article addresses the issue of international law on confidential information and the protection of confidential information. The paper then analyzes the role of protection of confidential information in order to ensure fair competition between actors and to exercise the right to fight unfair competition.
Keywords: Confidential information, protection of confidential information, unfair competition, international law.
Xem tất cả ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 12 tháng 11/2017 tại đây
