Cần sớm xây dựng chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam

Để đánh giá sự phồn thịnh của kinh tế một quốc gia, người ta hay nhìn vào sự phát triển thị trường bán lẻ hàng hóa của quốc gia đó. Hàng hóa có dồi dào, đa dạng, chất lượng hay không thể hiện sức sản


1. Một số đánh giá tình hình thị trường bán lẻ hiện nay
Trước hết, thị trường bán lẻ Việt Nam tuy qui mô còn nhỏ, với 87,84 triệu dân (số liệu thống kê 2011), song lại có sức hấp dẫn mạnh đối với các nhà đầu tư, đặc biệt với các nhà đầu tư nước ngoài, bởi áp lực cạnh tranh chưa lớn, trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế thuộc loại khá trong khu vực, lại có chế độ chính trị ổn định. Bên cạnh đó, người tiêu dùng Việt Nam thuộc hàng trẻ nhất ở châu Á (hiện nay có 57% dân số có độ tuổi dưới 30, sau 15 năm, tỉ lệ này là 50%) và mức chi tiêu ngày càng tăng… Qui mô thị trường ngày một lớn dần (năm 2008, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 975 nghìn tỷ đồng, tương đương trên 54 tỷ USD, đến năm 2011 đạt 2004,3 nghìn tỷ đồng và năm 2012 dù không đạt được mức tăng trưởng cao như những năm trước nhưng cũng tăng khoảng 16% so với năm 2011. Thu nhập bình quân đầu người cũng đã tăng dần và đã ra khỏi nước có thu nhập thấp (trên 1000 USD/người/năm); văn hoá tiêu dùng thông minh, hiện đại, đang dần phát triển thúc đẩy sức tiêu dùng tăng. Từ sau ngày 01/01/2009, khi các nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) được đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ phân phối thì Việt Nam là một điểm đến đầy tiềm năng. 

So với các NĐTNN, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ có những lợi thế như: có mạng lưới hầu như rộng khắp trên cả nước, có phương thức kinh doanh thân thiện, gần gũi với đại đa số người tiêu dùng. Tuy nhiên, đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam chưa phát huy được các lợi thế này một cách hiệu quả như mong đợi. 

Trong một thị trường bán lẻ đan xen hai nhà cung cấp, với hai phương thức kinh doanh hiện đang khác nhau, các doanh nghiệp nước ngoài với phương thức kinh doanh hiện đại và các doanh nghiệp trong nước với phương thức kinh doanh còn lạc hậu, người tiêu dùng Việt Nam xét về khía cạnh nào đó lại có nhiều sự lựa chọn hơn, bởi bản thân họ cũng có nhiều giai tầng thu nhập, sinh sống và làm việc trên nhiều địa bàn khác nhau, từ thành thị tới nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. 

Một điều quan trọng khác cần đánh giá là về hàng hóa lưu thông trên thị trường. Hiện nay, xét theo góc độ sản xuất trên thị trường đang lưu thông 2 loại hàng hóa chủ yếu là hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu chính ngạch. Bên cạnh đó, có một lượng hàng nhập khẩu tiểu ngạch, nhập lậu, hàng nhái, hàng giả cũng lưu thông một cách xen lẫn trên thị trường. 

Hiện chưa có số liệu chính xác phân tích tỷ trọng hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu lưu thông trên thị trường, nhưng đánh giá chung, hàng sản xuất trong nước vẫn chiếm tỷ trọng cao (hàng ngoại nhập tính qua kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng ngày càng giảm trong tổng kim ngạch nhập khẩu, nay chỉ chiếm khoảng 4,6% trong 9 tháng đầu năm 2012). Nếu xét cụ thể hơn trên các phân khúc thị trường bán lẻ, thì tỷ trọng hàng Việt trong kênh bán lẻ hiện đại đã tăng rõ rệt, chiếm từ 70% - 90% lượng hàng hóa kinh doanh của kênh này. Đối với thị trường nông thôn, nơi tiêu thụ phần lớn hàng hóa có chất lượng khá, trung bình với giá phải chăng thì nhờ phát động phong trào “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và các đợt đưa hàng về nông thôn của các doanh nghiệp mà hàng hóa đưa về các trung tâm huyện, xã cũng nhiều hơn. 

Về chất lượng, phần lớn hàng hóa đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng từ loại chất lượng cao tới chất lượng trung bình, sự lựa chọn cũng phong phú về kiểu dáng, mẫu mã, thể hiện năng lực sản xuất của các doanh nghiệp đã được nâng cao. 

Tuy vậy, cũng cần nhận thấy những bất cập trong phát triển thị trường bán lẻ ở Việt Nam, thể hiện qua một số điểm như: 

- Thị trường bán lẻ có tổ chức đang từng bước được hình thành, nhưng thiếu quy hoạch, dẫn đến hiệu qủa thấp trong khai thác cơ sở vật chất đã đầu tư. 

- Mô hình tổ chức, quản lý của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ đa dạng, thiếu tổ chức, đang bị phân khúc tự nhiên giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. 

- Hệ thống chợ truyền thống không có sự phát triển và đổi mới về nội dung và phương thức quản lý, kinh doanh, không phát huy được hiệu quả đầu tư, nhất là các chợ đầu mối nông sản ở địa phương. Chợ vỉa hè (ở thành thị), chợ cóc (ở nông thôn) phát triển thiếu quy hoạch; quy hoạch phát triển chợ chưa được xây dựng đầy đủ, khoa học, phù hợp với tính chất kinh doanh hàng hóa của từng địa bàn nên không phát huy hiệu quả hoặc thiếu sự quản lý trong thực hiện. 

- Chất lượng hàng hóa trên thị trường bán lẻ đang bị thiếu kiểm soát, nhất là trong hệ thống các chợ; hàng chất lượng thấp, hàng nhái, hàng giả, hàng nhập lậu chưa có xu hướng giảm thấp; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường gặp nhiều khó khăn do lực lượng thực thi mỏng, phương tiện thiếu, sự phối hợp giữa các lực lượng chuyên ngành, giữa các địa phương còn thiếu chặt chẽ. 

- Giá cả hàng hóa bán lẻ biến động thường xuyên, không kiểm soát được; Pháp lệnh giá chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Bên cạnh nguyên nhân bị ảnh hưởng của biến động thị trường thế giới, công tác thẩm tra, thanh tra, kiểm soát giá thành, giá bán bị buông lỏng; năng lực dự báo của cơ quan quản lý còn nhiều hạn chế, sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác điều hành giá cả còn nhiều bất cập. 

- Quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm; quy định về nhãn, mác hàng hóa được thực thi một cách lỏng lẻo; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường chống hàng giả, hàng nhái còn hạn chế; doanh nghiệp chưa quan tâm một cách thỏa đáng tới việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu hàng hóa của mình; chưa tổ chức theo dõi sát sao tình hình lưu thông hàng hóa trên thị trường để kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi vi phạm bản quyền. 

2. Định hướng chiến lược phát triển thị trường bán lẻ

Trên cơ sở phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra một số đề xuất để rộng đường bàn luận cho một chiến lược phát triển thị trường bán lẻ Việt Nam những năm tới. 

Thứ nhất, phát triển mô hình bán lẻ hiện đại kết hợp với mô hình bản lẻ truyền thống tại các địa bàn một cách phù hợp với văn hóa tiêu dùng của người dân. Tại các đô thị tập trung, nên phát triển các Trung tâm thương mại, siêu thị quy mô lớn, tăng dần tỷ trọng hàng hóa qua kênh bán lẻ hiện đại hiện nay đang ở mức khoảng 20% lên 40% vào năm 2020. Hết năm 2011, cả nước mới có khoảng 638 siêu thị (loại 1 là 117, loại 2 là 168 và loại 3 là 353), 116 trung tâm thương mại và đang có xu thế phát triển nhanh trong thời gian tới. 

Thứ hai, phát triển hệ thống chợ với những đổi mới về nội dung và hình thức hoạt động, phù hợp với tính chất và mục đích kinh doanh, mục đích phục vụ với mọi đối tượng tiêu dùng. Hình thành những khu phố mua sắm xen lẫn hai mô hình hiện đại và truyền thống, kết hợp điểm du lịch. Theo số liệu thống kê tới hết năm 2011, nước ta có 8.550 chợ truyền thống trên khắp cả nước (loại 1 là 232, loại 2 là 936 loại 3 là 7.382) và 80% lưu lượng hàng hóa luân chuyển qua kênh phân phối này. Đây thực sự là kênh phân phối hữu hiệu cho hàng Việt, cũng như để phát triển sâu rộng Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa nắm bắt và khai thác có hiệu quả kênh phân phối quan trọng này. 

Thứ ba, phát triển sản xuất để tăng dần tỷ trọng hàng Việt trên thị trường bán lẻ nói chung và trên thị trường đô thị nói riêng. Tăng cường và nâng cao chất lượng hàng hóa, kiểu dáng, mẫu mã sản phẩm, chú trọng hoạt động xây dựng thương hiện, quảng cáo, tiếp thị… Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia cần lựa chọn tập trung cho những đề án có tính khả thi, thiết thực phục vụ việc phát triển thương mại trong nước, chú trọng các khu vực thị trường tập trung đông dân cư, các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa mà bản thân doanh nghiệp cần sự hỗ trợ về tài chính của Chương trình. 

Thứ tư, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng logisstic phục vụ cho phát triển thương mại nói chung và hoạt động bán lẻ nói riêng (xây dựng kho tàng, trang bị phương tiện vận chuyển hiện đại, chuyên dùng đảm bảo đưa hàng đi xa và nhanh chóng, kịp thời…). Vấn đề này cần các địa phương thể hiện vai trò chỉ đạo, điều tiết, phối hợp trên cơ sở các quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng thương mại đã được Bộ Công Thương phê duyệt. 

Thứ năm, cần hình thành chuỗi cung ứng hàng hóa từ sản xuất - bán buôn - bán lẻ liên hoàn, ổn định hỗ trợ cho nhau cùng phát triển. Đó là sự liên kết giữa các nhà sản xuất với các nhà lưu thông, giữa các nhà lưu thông với nhau để tiết kiệm chi phí sản xuất, lưu thông, từng bước phát triển thành các tập đoàn thương mại lớn với hệ thống phân phối hiện đại có tính toàn cầu. Giảm dần, tiến tới loại bỏ mô hình đại lý bán buôn, bán lẻ để sử dụng mô hình siêu thị, cửa hàng tiện ích làm kênh phân phối trực tiếp, giảm chi phí vận chuyển, giảm chiết khấu hoa hồng bán hàng, hậu mãi. 

Thứ sáu, cần tổ chức Quy hoạch đất đai, mặt bằng, vị trí cho sự phát triển các hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại (trung tâm thương mại, siêu thị, kho trung chuyển…) trên phạm vi cả nước theo một tiêu chí thống nhất, nhằm chấm dứt tình trạng chồng chéo, lãng phí cơ sở hạ tầng, không phù hợp giữa nhu cầu tiêu dùng, sức mua dân cư với lượng hàng hóa lưu thông; Phát triển các cửa hàng, cửa hiệu truyền thống, cửa hàng tiện ích, cửa hàng nhượng quyền thương mại tại các đô thị, cụm dân cư trên địa bàn cả nước; Phát triển siêu thị phù hợp giữa hạng siêu thị và quy mô đô thị; Phát triển các Trung tâm thương mại tại các đô thị có quy mô từ loại II trở lên với diện tích tối thiểu từ 1000m2 trở lên. 

Thứ bảy, cần thực hiện những nội dung của Quy hoạch tổng thể phát triển thương mại Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và định hướng đến năm 2030 đã được Bộ Công Thương phê duyệt. Theo đó, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng bán lẻ hiện đại, nâng dần tỷ trọng bán lẻ hàng hóa qua các loại hình này trong tổng mức bán lẻ hàng hóa hiện nay khoảng 20% lên khoảng 40% vào năm 2020. Đồng thời, cải thiện điều kiện kinh doanh và duy trì sự phát triển của các loại hình bán lẻ truyền thống, tiếp tục thực hiện quy hoạch chợ bán lẻ, chợ dân sinh theo Quyết định số 012/QĐ-BCT ngày 26 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Công Thương. 

Thứ tám, cần sớm hoàn thiện thể chế thương mại phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn chiến lược 2011 - 2020. Xây dựng đội ngũ thương nhân trong nước ngày càng lớn mạnh, tham gia tích cực vào quá trình phát triển nhanh thị trường trong và ngoài nước. Đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, trong đó chú trọng hoàn thiện khung pháp lý liên quan.