Chính sách và thực tiễn phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam

Các khu công nghiệp, khu chế xuất đã và đang phát triển nhanh ở Việt Nam, đóng góp tích cực vào tăng trưởng công nghiệp, xuất khẩu, tạo việc làm, hình thành đô thị mới, đặc biệt là tạo môi trường thu

1. Quá trình hình thành chính sách 

Những năm đầu xây dựng CNXH ở miền Bắc với quan điểm “ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên cơ sở phát triển công nghiệp nhẹ một các hợp l‎í” chúng ta đã bố trí không gian công nghiệp theo hướng gắn kết với một số vùng nguyên liệu như KCN gang thép Thái Nguyên, KCN Công nghiêp hóa chất ở Việt Trì, tổ hợp công nghiệp “Cao-xà lá” ở Đường Nguyễn Trãi, Hà Nội, phân đạm ở Bắc Giang, Xi măng ở Hải Phòng,… nhìn chung, các KCN gắn với việc xây dựng các đô thị mới, nguồn nguyên liệu, nhân lực, và do cả đề xuất của bên đối tác là các nước trong hệ thống XHCN… đã giải quyết được một số nhu cầu của sản xuất, đời sống, phục vụ chiến đấu, tạo nền tảng bước đầu về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất của công nghiệp CNXH.

Ở phía Nam, chính quyền cũ đã xây dựng các KCN nhỏ ở các thành phố lớn như Biên Hòa, Sài Gòn,… phục vụ dân sinh và chiến tranh. Vào những năm 70, đã xuất hiện các nghiên cứu quy hoạch một số khu chế xuất KCX, KCN theo mô hình KCN, KCX Cao Hùng, Đài Loan…

Căn cứ vào thời điểm thành lập để nghiên cứu chính sách: KCX được quan tâm sớm hơn, từ đề xuất của TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, tuy nhiên sự ra đời sớm nhất thuộc về KCX Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh (năm 1991), tiếp đến Linh Trung-TP. HCM năm 1992. KCN do nhà đầu tư nước ngoài thực hiện sớm nhất trong các KCN ở Việt Nam là KCN Nomura Hải Phòng (Nhật Bản đầu tư năm 1994), trong năm đó là KCN Amata (Thái Lan, Nhật Bản đầu tư) hạ tầng. Đến tháng 10/1997 cả nước mới có 41 KCN và KCX.

1.1.Giai đoạn khởi đầu từ năm 1991 đến 1997 

Chính sách áp dụng: Nghị định 322-HĐBT ngày 18/10/1991 ban hành Quy chế Khu chế xuất với khái niệm cơ bản “Khu chế xuất là khu công nghiệp tập trung chuyên sản xuất hàng xuất khẩu và thực hiện các dịch vụ sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu được thành lập và hoạt động theo quy chế này.” Nghị định đặt nền tảng cho các Nghị định về KCN, KCX với những nội dung chính: 

- Công ty đầu tư, kinh doanh hạ tầng: Công ty hoạt động theo Luật Công ty, Luật đầu tư nước ngoài,… và các luật chuyên ngành, tiến hành đầu tư hạ tầng, phân lô, cho thuê; hình thức Công ty liên doanh; 

- Doanh nghiệp KCX thuê đất, thuê hoặc mua nhà xưởng, và dịch vụ kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài, hình thức Công ty TNHH. Ban quản lý Khu chế xuất cấp giấy phép kinh doanh và chứng nhận đăng ký Điều lệ xí nghiệp. Thời gian hoạt động của doanh nghiệp KCX không quá 50 năm; 

- Ban quản lí (BQL) KCX thực hiện quản lí nhà nước KCX dưới sự chỉ đạo trực tiếp của UBND cấp tỉnh, các Bộ, Ngành liên quan về quản lí nhà nước theo luật chuyên ngành. “Ban quản lý Khu chế xuất gồm có trưởng ban, một số phó ban và uỷ viên, có con dấu riêng. Các thành viên Ban quản lý Khu chế xuất do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm theo đề nghị của Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố có Khu chế xuất”; 

- Các tổ chức chuyên ngành như ngân hàng, hải quan, bưu điện,… hoạt động theo quy định của luật chuyên ngành được đặt tại KCX… 

Nghị định 322-HĐBT mang nội dung hướng ngoại, giành ưu đãi cho nhà đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước chưa được quan tâm. Tại thời điểm đó là một chính sách tích cực, thu hút những nhà đầu tư có kinh nghiệm đầu tư KCX, sự thành công ở KCX Tân Thuận; không thành công ở KCX Hải Phòng và Linh Trung, do chọn đối tác chưa mạnh. 

Nghị định số 192-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ ban hành Quy chế KCN: về cơ bản tiếp nhận nội dung Nghị định 322-HĐBT, điểm mới khác là: 

- KCN bao gồm các doanh nghiệp công nghiệp có vốn trong hay ngoài nước, trong đó có doanh nghiệp chế xuất; có thêm doanh nghiệp dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp; 

- Công ty đầu tư phát triển hạ tầng là doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Công ty được ấn định giá cho thuê đất, cho thuê hoặc bán nhà xưởng và phí dịch vụ với sự chấp thuận của BQL KCN 

Doanh nghiệp trong nước nộp thuê như các doanh nghiệp khác trong nước; Doanh nghiệp nước ngoài nộp thuế lợi tức với mức: “18% lợi nhuận thu được đối với xí nghiệp sản xuất; 12% lợi nhuận thu được đối với xí nghiệp xuất khẩu ít nhất 80% sản phẩm của mình. Xí nghiệp được miễn thuế lợi tức 2 năm kể từ khi kinh doanh có lãi; 22% lợi nhuận thu được đối với xí nghiệp dịch vụ. Xí nghiệp được miễn thuế lợi tức 1 năm kể từ khi kinh doanh có lãi”. Tại thời điểm này hướng ưu tiên đầu tư nước ngoài. 

- Trưởng ban Ban quản lý Khu công nghiệp do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ. Phó Trưởng ban ban Quản lý do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bổ nhiệm theo đề nghị của Trưởng ban Ban quản lý sau khi có sự thoả thuận của Bộ trưởng, Trưởng ban Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ. 

1.2 Giai đoạn phát triển từ năm 1997 đến 2008 

Chính sách áp dụng: Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 ban hành Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao. Một Nghị định tích hợp hai Nghị định trước đó và bổ sung thêm khu công nghệ cao do đề xuất của Bộ Khoa học Tài nguyên và Môi trường khi tiến hành xây dựng Khu công nghệ cao ở Hòa Lạc và TP. Hồ Chí Minh với sự hậu thuẫn của các doanh nghiệp lớn như tập đoàn FPT, nhà khoa học Việt kiều nước ngoài.

Giai đoạn này, xuất hiện “phong trào” làm KCN ở các tỉnh, thành phố. Nghị định 36 đặt vấn đề thành lập KCN theo quy hoạch theo Quyết định 519/TTg ngày 6/8/1996. Quyết định chỉ ra 10 KCN ở phía Bắc; 17 KCN ở phía Nam và 6 KCN ở miền Trung (sau đó bổ sung bằng Quyết định 713/QĐ-TTg ngày 30/8/1997). Về cơ bản, các KCN trong quy hoạch này đến nay đã được hình thành.

Sự phát triển quá nhanh các KCN: Đến 31/10/1997 đã có 41 KCN, KCX, sau Nghị định 36 đã lên tới gần 100 KCN, KCX được thành lập mặc dù có Công văn 7904-BKHĐT/KCN ngày 8/12/1997 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư yêu cầu “Các tỉnh đã có KCN mới, quy mô lớn… khi đã cho thuê lại được ít nhất 50% tổng diện tích đất trong các KCN cũ thì mới thành lập KCN mới.”

Việc triển khai xây dựng hạ tầng chậm so với thành lập mới, Chính phủ đã cho phép các công ty phát triển hạ tầng cho thuê lại đất để phát triển hạ tầng (CV19/KCN ngày 12/11/1997); Nghị định 36 cho phép một KCN có thể có đến 2 doanh nghiệp xây dựng và phát triển hạ tầng.

Nghị định 36 được các Bộ, Ngành địa phương hưởng ứng bằng việc xây dựng các văn bản hướng dẫn cùng với việc thành lập BQL các KCN Việt Nam giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo. Tuy nhiên đây là BQL đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ bên cạnh Vụ KCN và KCX đặt ở Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Sự tồn tại song trùng đầu mối quản l‎í dẫn đến Quyết định 99/2000/QĐ-TTg chuyển Ban quản lý các Khu công nghiệp Việt Nam về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chấm dưt “phân nhánh” quản lí nhà nước KCN ở hai cấp Bộ và Chính phủ.

Điểm nổi bật trong thời gian này là phân cấp cho địa phương: Phân cấp cho TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cùng với Bộ Xây dựng phê duyệt quy hoạch chi tiết; Phân cấp cấp phép đầu tư nước ngoài cho các tỉnh với những dự án dưới 5 triệu USD ở TP. Hải Phòng, Đà Nẵng; tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Quảng Ninh; và 10 triệu USD ở TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh (trừ dự án nhóm A và dự án quan trọng); ở các KCX được phân cấp cấp phép dự án đến 40 triệu USD (Quyết định 386/TTg ngày 7/6/1997). Đến 233/1998/QĐ-TTg và Nghị định 24/2000/NĐ-CP đã phân cấp cho UBND tỉnh cấp phép đầu tư các dự án (trừ dự án Quốc hội thông qua).

Cách phân cấp này như sự thăm dò khả năng của địa phương, trong khi đó ở bên Trung Quốc đã phân cấp cho cấp tỉnh được cấp phép đầu tư dự án đến 20 triệu USD. Việc phân cấp này vào thời điểm khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á đã làm gia tăng các thủ tục hành chính ở địa phương với Trung ương, nản chí một số nhà đầu tư do chờ đợi thời gian và thủ tục!

Các hướng dẫn của các Bộ, Ngành thực hiện Nghị định 36 khá rõ ràng, tạo được khung khổ pháp l‎í, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, doanh nghiệp thuê đất. Đặc biệt là ưu thế về giá thuê đất, miễn giảm thuế (xé rào) của địa phương khá hấp dẫn nhà đầu tư. Quyết định 1387/TTg 29/12/ 2005 của Thủ tướng chấm dứt các ưu đãi vượt trội so với quy định của Trung ương mà 32 tỉnh, thành phố ban hành. 

Đến năm 2006, trước sự gia tăng KCN, có xu hướng lấn mạnh vào đất nông nghiệp, chiếm chỗ chờ cơ hội, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 với mục tiêu : “ Đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp từ trên 24% hiện nay lên khoảng 39-40% vào năm 2010 và tới trên 60% vào giai đoạn tiếp theo. Tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp của các khu công nghiệp từ 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc hiện nay lên khoảng 40% vào năm 2010 và cao hơn vào các giai đoạn tiếp theo” 

Theo đó, Quyết định chỉ ra đến năm 2015 cả nước (cụ thể là 6 vùng kinh tế) có 115 KCN được ưu tiên thành lập.
1.3. Giai đoạn điều chỉnh từ 2008 đến nay 

Chính sách áp dụng: Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về Khu công nghiệp, Khu chế xuất và Khu kinh tế. Nghị định 29 chấp nhận những quy định khác về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế không trái với quy định của Nghị định 29.

Việc phân cấp quản lí KCN sâu hơn, KCX được coi là KCN “Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp quy định tại Nghị định 29”.

Nghị định 29 nhấn mạnh việc thành lập KCN theo quy hoạch, và các điều kiện thành lập mới và mở rộng khi đã cho thuê đến 60% đất ở cc KCN và mỗi KCN và khống chế diện tích mở rộng.

Nghị định 29 tiến đến hài hòa với Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và các Luật chuyên ngành, tham chiếu với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam k‎í, do vậy các ưu đãi đầu tư tuân thủ Luật Đầu tư.

Việc phân cấp quản lí rõ hơn: Việc bổ sung quy hoạch do Thủ tướng quyết định; thành lập KCN theo quy hoạch do UBND quyết định với sự thẩm định của Bộ chuyên ngành.

Trong một Nghị định quy định về 4 loại khu “ Khu công nghiệp, Khu chế xuất và Khu kinh tế, Khu kinh tế cửa khẩu” với sự kế tiếp các quy định không trái, gợi cho chúng ta về một sự thống nhất trong quản lí nhà nước đối với các không gian kinh tế có gianh giới, cũng như việc thống nhất các BQL thành một BQL các Khu kinh tế, hướng tới một đạo luật về Khu kinh tế.

2. Tóm tắt kết quả hoạt hoạt động của các KCN

2
.1. Về số lượng KCN và tổng diện tích đất

Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính đến cuối tháng 12/2008, cả nước đã có 219 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 61.472,4 ha, phân bố trên 54 tỉnh, thành phố trên cả nước. Trong đó, diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê theo quy hoạch đạt gần 40.000 ha, chiếm 65% diện tích đất công nghiệp. Năm 2008 là năm có số lượng KCN được thành lập mới và mở rộng nhiều nhất trong gần 17 năm xây dựng và phát triển KCN

Theo quy hoạch, từ nay đến năm 2015 sẽ thành lập thêm 91 KCN với tổng diện tích 20.839 ha và mở rộng thêm 22 KCN với tổng diện tích 3.543 ha. Dự kiến đến năm 2015 sẽ có thêm 24.381 ha đất KCN.

Phân bố: Ba Vùng kinh tế trọng điểm (chủ yếu là đồng bằng) chiếm tới 68% tổng số KCN và 80,9% tổng diện tích đất tự nhiên các KCN cả nước. Việc sử dụng đất nông nghiệp thành đất công nghiệp là tất yếu xảy ra tranh chấp.

Tổng số KCN đến năm 2010 sẽ là: 310 KCN với tổng diện tích 85.8 53 ha ( bằng 0,26% lãnh thổ)

2.2 Tình hình thu hút đầu tư

Đầu tư nước ngoài:

Tính đến đầu năm 2009, chưa kể tới vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng KCN, các KCN trên cả nước đã thu hút được 12,79 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó vốn của các dự án cấp mới đạt 10,45 tỷ USD với 540 dự án và 2,34 tỷ USD vốn tăng thêm với 537 lượt điều chỉnh dự án.

Các KCN trong cả nước thu hút được 3.564 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 42,667 tỷ USD;

Trong năm 2008, các KKT cả nước thu hút 18,23 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, trong đó cấp mới 18 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký là 15,78 tỷ USD và 12 dự án tăng vốn với tổng vốn đầu tư là 2,45 tỷ USD.
Về thu hút đầu tư trong nước:

Đến 31/12/2008, các KCN của cả nước thu hút được 3.588 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký là 251.541,57 tỷ đồng (tương đương 14,8 tỷ USD). Riêng năm 2008, các KCN đã thu hút gần 3,5 tỷ USD, trong đó có 524 dự án mới và điều chỉnh 173 dự án với tổng vốn đầu tăng thêm đạt 5.944,7 tỷ đồng.

Đến 31/12/2008, các KKT cả nước đã thu hút được 230 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đăng ký đạt 111.114 tỷ đồng (tương đương 6,5 tỷ USD). Riêng năm 2008, các KKT đã thu hút 1,85 tỷ USD vốn đầu tư trong nước, trong đó có 74 dự án mới và 8 dự án tăng vốn với tổng vốn đăng ký là 745,2 tỷ đồng.

Bảng: Số dự án và vốn đăng kí và vốn thực hiện (đến năm 2009)

Tổng số dự án Vốn đăng kí
(tỷ USD) Tổng số vốn thực hiên
Tổng số vốn So với vốn đăng k‎í (%)
Trong nước 2.258 14,8 121,1 nghìn tỷ 38
Nước ngoài 2.250 42,667 16,2 tỷ USD 49
Tổng số 5.508 57.467

Các chỉ tiêu sản xuất kinh doanh của các KCN trong năm 2008 đã đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp KCN đã đạt tổng doanh thu 28,9 tỷ USD (bằng 28% giá trị sản xuất công nghiệp năm 2008), tăng 29% so với năm 2007. Kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN đạt 14,5 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007 và chiếm 24,7% giá trị xuất khẩu của cả nước. (Năm 2006 đạt 19,2% giá trị xuất khẩu toàn quốc, thấp hơn mức phấn đấu lên khoảng 40% vào năm 2010) một số nhận định:

(1) Năm 2008, năm khủng hoảng kinh tế thế giới, việc thu hút vốn đầu tư vào KKT bằng 50% tổng vốn FDI, phải chăng đó là sự dịch chuyển vốn của nhà đầu tư để xác định quyền đầu tư bất động sản công nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam, hoặc môi trường đầu tư vào KCN ở các tỉnh rất hấp dẫn. Câu trả lời là cả hai.

(2) Năm 2008, vốn đầu tư nước ngoài vào KCN 12,79 tỷ USD (chưa kể hạ tầng) lớn hơn 3,65 lần so với vốn đầu tư trong nước đầu tư vào KCN. Đây là năm cơ hội đến với nhà đầu tư nước ngoài và các BQLKCN.

(3) Tổng số dự án đầu tư trong và ngoài nước vào các KCN ngang nhau thời điểm này, nhưng tổng vốn đăng ký đầu tư của nước ngoài vào KCN lớn hơn 2,8 lần, hay bình quân mỗi dự án đầu tư vao KCN của nước ngoài gấp gần 3 lần so với dự án có vốn đầu tư trong nước.

2.3 Các kết quả khác:

- Trong số 219 KCN cả nước có 118 KCN đã đi vào hoạt động, 101 KCN đang xây dựng cơ bản chủ yếu là các KCN mới thành lập trong hai năm gần đây (2007, 2008). Tổng diện tích đất đã cho thuê của các KCN đã đi vào hoạt động đạt 14.904 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 64% diện tích đất công nghiệp .

-Tính chung các KCN cả nước thì tỷ lệ lấp đầy đạt 46% với 17.107 ha đất công nghiệp đã cho thuê.

-Giá trị sản xuất kinh doanh trên đất công nghiệp đã cho thuê đạt 1,68 triệu USD/ha.

-KCN tiếp tục góp phần vào giải quyết việc làm và thu ngân sách. Tại thời điểm 31/12/2008, các KCN đã thu hút trên 1 triệu lao động trực tiếp. Tính bình quân 1 ha đất công nghiệp đã cho thuê thu hút 73 lao động.

-Các doanh nghiệp KCN năm 2008 đã nộp Ngân sách khoảng 1,3 tỷ USD.

- Môi trường KCN đã dần được cải thiện nhưng vẫn đi sau, chỉ có 33 khu công nghiệp đã có công trình xử lý nước thải (GS. TSKH Ngô Thế Thi -2007), ước khoảng 25% KCN.

3. Bình luận

(1) Chọn công nghệ cao, công nghệ phù hợp vào KCN: Tạo môi trường đầu tư là quan trọng, mỗi dự án đăng ký đều có độ trễ ít nhất 1 năm mới đi vào hoạt động, việc đăng ký giữ chỗ, hoặc tìm cơ hội chuyển nhượng dự án, cho thuê lại đã và sẽ xảy ra. Do vậy, việc lựa chọn dự án và nhà đầu tư đích thực rất quan trọng, hiện nay nhiều KCN đã có thế “kén cá chọn canh”

(2) Tiết kiệm đất: Trong khi chưa điều chỉnh quy hoạch, việc thành lập mới và mở rộng theo đúng quy định tại Nghị định 29 và Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển các KCN của Việt Nam đến năm 2015 định hướng đến 2020.

Với sự phát triển KCN hiện nay, khoảng cách trung bình từ các KCN đến trung tâm đô thị ngày càng rút xuống (dưới 10 km ở thành phố lớn, và dưới 5 km ở thị xã, thành phố thuộc tỉnh, và nằm ngay tại các thị trấn). Lợi trước mắt về giao thông, nguồn nhân lực, nhưng hại tương lai, đó là ô nhiễm môi trường, áp lực đô thị hóa, KCN Cao-Xà- Lá ở Thanh Xuân Hà Nội, và các nhà máy phải di rời hiện nay là chỉ báo của di rời của các KCN hôm nay vào dưới 50 năm. Khi đó sẽ phải đóng cửa, chấm dứt hoạt động.

Cùng với việc ra đời cụm điểm công nghiệp theo Quyết định 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 với diện tích với diện tích bình quân từ 50 đến 75 ha có ở các huyện trong cả nước đòi hỏi sự tiết kiệm đất và quy hoạch hợp lí.

Phải chăng, chúng ta nên xây dựng các thành phố công nghiệp mới ở những vùng đất phi nông nghiệp như ven biển Quảng Ngãi, miền Trung, như các đặc khu kinh tế ở Trung Quốc, như thành phố công nghiệp của Huyndai (Hàn Quốc) họ đã chọn đất không có khả năng nông nghiệp. Về tương lai lâu dài, 1 ha đất công nghiệp với công nghệ trung bình không hiệu quả bằng sản xuất nông nghiệp với công nghệ trên trung bình. Sự thuyết trình của các dự án KCN bằng áp lực hành chính và tính toán số học đã lấn át đất “bờ xôi, ruộng mật”

(3) Vấn đề lao động: Phát triển KCN cùng với việc giải quyết lao động tại chỗ mâu thuẫn với phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao? Lao động tại chỗ mất việc nông nghiệp, nhưng chỉ dưới 10% lao động KCN là người ở huyện có KCN, thấp xa so với lời hứa và mong muốn. Lẽ đương nhiên là trình độ lao động không đáp ứng, và dự án nhà máy KCN không sử dụng nhiều lao động, do hướng về công nghệ cao.

(4) Cơ chế một cửa: Cải cách hành chính ở KCN đòi hỏi BQL đại diện cho Nhà nước, phối hợp với các cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành làm tốt các dịch vụ cho nhà đầu tư: Trước hết thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển hạ tầng chuẩn bị tốt nhất hạ tầng kỹ thuật (mặt bằng, điện nước, viễn thông, môi trường, hỗ trợ xây dựng nhà xưởng, cho thuê mượn kho bãi,…) và các dịch vụ nhân lực, vốn, hải quan, thuế,… Những ách tắc này đã được giảm bớt nhưng nhà đầu tư luôn đòi hỏi sự hoàn hảo. BQL các KCN Bình Dương tiên phong cơ chế này từ những năm cuối thế kỷ, tạo hiệu ứng tốt ra BQL các KCN ở Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,…

(5) Về nội địa hóa: Kinh nghiệm chỉ ra các KCN khu chế xuất ở Philipin, Mã Lai,…giai đoạn đầu thường đạt tỷ lệ nội địa hóa rất thấp (dưới 7%), toàn bộ chi phí đầu vào nhập khẩu, gia công và tái xuất, phần gia tăng trong nước và tiêu thụ hàng hóa dịch vụ nội địa quá thấp trong tổng giá trị xuất khẩu.

Tai nước ta, cảnh báo về các doanh nghiệp FDI trong và ngoài KCN đã chuyển giá, đẩy chi phí đầu vào cao, chỉ nộp thuế xuất nhập khẩu, không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp vì “không có lãi” và cũng không nhiều thuế thu nhập cá nhân, vì việc chuyển giá đã thực hiện ngoài biên giới mà ta không thể kiểm soát được.

Cũng đáng lo ngại, nếu các doanh nghiệp KCN chỉ là nơi gia công thuần túy thì khó mà nâng cao được chất lượng chuyển giao công nghệ, các KCN dùng lao động giá thấp, phí hạ tầng dịch vụ cũng không thu được nhiều, kim ngạch xuất khẩu chưa nói lên giá trị gia tăng, doanh số bán vào nội địa như (hàng điện tử lắp ráp, bán trong nước) không nói lên giá trị nội địa hóa?

Rõ ràng cần có những hợp đồng, cam kết và bảo đảm thực hiện để tăng chi phí đầu vào là nhân lực, nguyên liệu, bán thành phẩm, dịch vụ,… trong nước. Tuy nhiên, khi khảo sát xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ, phía đối tác nước ngoài (Nhật Bản) từng nhiều lần thất vọng khi tìm kiếm 100 doanh nghiệp Việt Nam cung cấp một vài chi tiết bán thành phẩm công nghiệp, nhưng không có doanh nghiệp nào đáp ứng.

(6) Dịch vụ ngoài KCN: Nhà đầu tư hạ tầng, và doanh nghiệp kinh doanh trong KCN hay “quên” đầu tư các công trình nhà ở, nhà trẻ, trường học, bệnh viện ngoài KCN dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực không bảo đảm, cùng với mức lương thấp dẫn đến hiện tượng công nhân nhảy việc, không quay lại sau dịp Lễ Tết. Trách nhiệm của xã hội, ưu đãi của Nhà nước giành cho các doanh nghiệp có dự án đầu tư, có cam kết về giá dịch vụ, ví dụ như ưu đãi giá thuê đất, được giao mặt bằng làm các công trình phục vụ, thì giá dịch vụ phải giảm. Có khó kiểm soát vấn đề này.

(7) Môi trường và an toàn chống cháy nổ: Trước hết cơ quan quản lí cần đánh giá trạng thái môi trường ở các KCN, kiểm tra việc xử lí chất thải (rắn, khí, nước,…) và các biện pháp an toàn. Ngoài việc phạt, có thể dùng các biện pháp khẩn cấp như dừng hoạt động gây ô nhiễm môi trường.

(8) Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 29/2008/NĐ-CP

Theo quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP, để thực hiện các quy định về quản lý nhà nước đối với KCN, KCX, KKT, các bộ, ngành có liên quan đã và đang triển khai thực hiện một số nội dung công việc cụ thể như sau:

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã trình Chính phủ: sửa đổi, bổ sung cơ chế hỗ trợ vốn ngân sách Trung ương để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật KCN tại các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và trình; đã xây dựng và được Chính phủ ban hành Quyết định 66/2009/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho công nhân thuê nhằm tạo điều kiện cho người lao động làm việc tại các KCN, KCX… Quyết định này được thực hiện từ ngày 10/6/2009.

- Bộ Xây dựng: đã ban hành Thông tư 19/2008/TT-BXD ngày 20/11/2008 hướng dẫn thực hiện việc lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch xây dựng KCN, KKT.

- Bộ Công Thương: đã hướng dẫn Ban quản lý KCN, KKT cấp giấy phép thành lập Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại công văn số 7190/BCT-KH ngày 15/8/2008 của Bộ Công Thương; Đang xây dựng Quy chế hoạt động của khu phi thuế quan trong KKT để trình Thủ tướng Chính phủ.

- Bộ Tài nguyên và Môi trường: đang xây dựng Quy chế bảo vệ môi trường KCN, KCX, KCNC; đang xây dựng Thông tư hướng dẫn về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường, trong đó có nội dung về phân cấp, ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KKT thẩm định và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận đăng ký bản cam kết bảo vệ môi trường.

- Bộ Tài chính: đang dự thảo Thông tư hướng dẫn chung về thủ tục hải quan áp dụng tại KCN, KKT, doanh nghiệp chế xuất; Đang nghiên cứu hướng dẫn về giảm thuế thu nhập đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập làm việc tại KKT.

- Bộ Khoa học và Công nghệ: đang xây dựng Thông tư hướng dẫn việc thẩm tra công nghệ các dự án đầu tư.

Một số nhiệm vụ đã được quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP nhưng chưa được các bộ, ngành triển khai thực hiện bao gồm:

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư: rà soát và trình Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ những quy định trái với Nghị định 29; xây dựng và quản lý hệ thống thông tin toàn quốc về KCN, KKT.

- Bộ Nội vụ: hướng dẫn thực hiện quy định về cơ cấu tổ chức bộ máy và biên chế của Ban quản lý KCN, KKT.

- Bộ Tài chính: hướng dẫn về khấu trừ chi phí hợp lý để tính thuế thu nhập doanh nghiệp đối với chi phí vận hành hoặc thuê nhà chung cư và các công trình kết cấu hạ tầng xã hội phục vụ cho công nhân làm việc tại KCN, KKT.

- Bộ Công Thương: hướng dẫn Ban quản lý KCN, KKT cấp Giấy phép kinh doanh đối với hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy phép đầu tư tại KCN, KKT.

- Bộ Khoa học và Công nghệ: hướng dẫn xác định tiêu chuẩn dự án sản xuất sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển, đầu tư trong KCN, KKT; hướng dẫn Ban quản lý KCN, KKT thực hiện công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ đối với tổ chức hoạt động trong KCN, KKT.

- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội: hướng dẫn Ban quản lý KCN, KKT thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động tại khu công nghiệp, khu kinh tế theo quy định của pháp luật về lao động.

Một số nội dung công việc theo quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP chưa được sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn tiếp tục được thực hiện theo các quy định hiện hành:

- Quy hoạch tổng thể phát triển KCN;
- Chương trình, kế hoạch quốc gia về xúc tiến đầu tư vào KCN, KKT;
- Quy định về mẫu biểu báo cáo định kỳ về KCN, KKT;
- Quy định về xây dựng đề án thành lập, phân loại, xếp hạng và tổ chức lại Ban quản lý KCN, KKT;
- Quy định về tiền lương đối với công chức, viên chức của Ban quản lý KCN, KKT;
- Quy định về cơ chế, chính sách tài chính đối với Ban quản lý KCN, KKT, đơn vị sự nghiệp kinh tế có thu làm chủ dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN;
- Quy định về việc cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong KCN, KKT;
- Quy định về việc thu phí bảo vệ môi trường trong KCN, KKT;
- Quy định về việc thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động tại KCN, KKT; quy định về xuất nhập cảnh, cư trú, tạm trú trong KKT, KKT cửa khẩu.

Một số cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP không còn phù hợp:

- Quy định việc giảm 50% số thuế thu nhập đối với người có thu nhập thuộc diện chịu thuế thu nhập, kể cả người Việt Nam và người nước ngoài làm việc tại KCN. Tuy nhiên, kể từ ngày có hiệu lực thi hành của Luật Thuế thu nhập cá nhân (ngày 01/01/2009) thì quy định nêu trên sẽ không còn hiệu lực do Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 hướng dẫn một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân chỉ quy định việc giảm thuế thu nhập cá nhân trong trường hợp bất khả kháng như thiên tai, địch họa chứ không quy định giảm thuế theo đối tượng như quy định tại Nghị định 29/2008/NĐ-CP;

Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp không quy định KCN là địa bàn thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và không có quy định đối với dự án đầu tư mở rộng trong KCN. Do vậy, kể từ ngày 01/01/2009 các dự án đầu tư mới trong KCN và các dự án đầu tư mở rộng trong KCN, sẽ không được hưởng ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp.

- Nghị định 29/2008/NĐ-CP chưa quy định cụ thể về quản lí nhà nước ở KCN trong lĩnh vực: lao động, xây dựng, môi trường, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền đó thuộc các cơ quan ngoài BQL, do vậy vừa thiếu kịp thời, đồng thời cũng gây bức súc cho doanh nghiệp khi được kiểm tra quá nhiều lần.

Một số địa phương nơi có các KCN, KKT phát triển, UBND cấp tỉnh đã ban hành quy chế phối hợp làm việc giữa Ban quản lý KCN, KKT với các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh theo cơ chế một cửa và một cửa liên thông đồng thời chủ động giao nhiệm vụ hoặc ủy quyền cho Ban quản lý KCN, KKT thực hiện chức năng, nhiệm vụ đã được giao tại Nghị định số 29/2008/NĐ-CP trên các lĩnh vực như: quản lý xây dựng và quy hoạch phát triển KCN, các khu chức năng thuộc KKT, xúc tiến đầu tư, phát triển nguồn nhân lực, quản lý lao động, môi trường, đất đai, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính...

4. Khuyến nghị

- Tổng điều tra KCN, Khu kinh tế, Khu kinh tế cửa khẩu;

- Sử dụng tư vấn chính sách, có tham khảo quốc tế đánh giá kết quả điều tra;
- Xây dựng văn bản quy phạm pháp luật mạnh hơn, có thể Luật về Khu Kinh tế, chỉ có như vậy mới giảm bớt sự “chắp vá chính sách” hơn là hoàn thiện chính sách; tạo sự thông nhất trong toàn quốc, các Bộ ngành, địa phương không phải “chạy” cho ra chính sách “đối phó”, hướng tập trung quyền theo ngành dọc,
- Phân quyền nhiều hơn cho BQL, chỉ có một Ban quản lí các loại khu kinh tế.

Tài liệu tham khảo:
1. Hướng dẫn đầu tư vào các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ở Việt Nam.
2. Trang điện tử: khucongnghiepvietnam
3. http://bmktcn.com/kcn_vietnam.php- Bộ môn kiến trúc, Đại học Xây dựng