Tỷ trọng số DN công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam chỉ bằng 1/5 tổng số doanh nghiệp công nghiệp. Nếu tính theo giá trị sản xuất của ngành chế biến, thì nhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam chỉ chiếm 19,9%, trong đó, khối doanh nghiệp công nghiệp tư nhân chưa đạt 10%, còn thấp hơn tỷ lệ số DN thuộc các ngành công nghệ trung bình (28,9%); các ngành công nghệ thấp (51,2%). Nếu tính theo giá trị tăng thêm, thì tỷ trọng nhóm ngành công nghệ cao của nước ta còn thấp hơn nữa, vì phần lớn những ngành công nghệ cao chủ yếu là sản xuất lắp ráp, là ngành tuy có giá trị sản xuất lớn, nhưng lại có giá trị gia tăng nhỏ, như lắp ráp sản phẩm điện tử, lắp ráp ôtô, xe máy… các DN tư nhân trong lĩnh vực điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin còn rất nhỏ và phần lớn sử dụng công nghệ lạc hậu. Thiết bị văn phòng, máy tính chỉ chiếm 0,4% giá trị sản xuất công nghiệp; sản xuất thiết bị điện, điện tử, viễn thông chiếm 4,7%; sản xuất thiết bị chính xác chỉ chiếm 0,2%. Các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, nhất là các ngành sản xuất máy móc phát triển chậm, phần lớn vẫn dừng ở việc sản xuất những máy móc thông thường và phụ tùng thông thường, tỷ trọng trong toàn ngành công nghiệp lâu nay chỉ xoay quanh con số từ 1,5 – 1,6% và chưa có dấu hiệu tăng lên. Tỷ trọng DN công nghiệp thuộc nhóm ngành công nghệ cao của Việt Nam thấp, trong khi tỷ trọng nhóm ngành công nghệ thấp lại rất cao.
Tỷ trọng các ngành công nghệ cao, trung bình và thấp tính theo giá trị sản xuất thực tế trong lĩnh vực chế biến của một số nước ASEAN
Bảng 1
Nước
Nhóm ngành công nghệ
Ghi chú
Thấp
Trung bình
Cao
Thái Lan
42,7
26,5
30,8
* Số liệu các nước là năm 1998, số liệu Việt Nam là năm 2005.
Singapore
10,5
16,5
73
Malaysia
24,3
24,6
51,1
Indonexia
47,7
22,6
29,7
Philippin
45,2
25,7
29,1
Việt Nam
51,2
28,9
19,9
Nguồn: Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển - Tổng cục Thống kê
Mặc dù số DN công nghiệp NQD tăng nhanh, nhưng quy mô doanh nghiệp nhỏ. Có tới 77,7% số DN có mức vốn dưới 10 tỷ đồng, chỉ có 2,3% DN có từ 200 tỷ đồng trở lên. Bình quân, 1 cơ sở sản xuất công nghiệp đầu năm 2005 chỉ có 6,4 lao động; 0,99 tỷ đồng vốn; 0,54 tỷ đồng tài sản cố định; Mức trang bị tài sản cố định bình quân 1 lao động chỉ đạt 84,4 triệu đồng. Điều này cho thấy mức trang bị, công nghệ của DN công nghiệp Việt Nam còn quá thấp.
Quy mô bình quân cơ sở sản xuất công nghiệp Việt Nam năm 2005
Bảng 2
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
Cơ sở sản xuất công nghiệp
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp ngoài nhà nước
Cơ sở cá thể
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Số lao động
Lao động
654
64
2,5
414
- Vốn
Tỷ đồng
213,2
7,2
0,037
129,3
- Tài sản cố định
Tỷ đồng
120,2
3,0
0,026
74,9
- Trang bị tài sản cố định cho một lao động
triệu đồng
183,8
46,9
10,4
180,9
Nguồn: Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới và phát triển - Tổng cục Thống kê
Do trình độ công nghệ của DN công nghiệp thấp, nên năng suất lao động thấp, suất tiêu hao nguyên, nhiên, vật liệu cao, dẫn đến giá thành sản phẩm cao, làm cho sức cạnh tranh của DN cũng như sản phẩm yếu. Mặt khác, DN đang đứng trước nghịch lý là cần khấu hao nhanh để thu hồi vốn, nhưng nếu khấu hao nhanh, giá thành, giá bán lại cao, không thể cạnh tranh được.
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, phần lớn các công nghệ đang được sử dụng ở Việt Nam đều lạc hậu nhiều so với các nước tiên tiến trên thế giới, do đó hạn chế khả năng sản xuất những sản phẩm có tính cạnh tranh. Việc đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam hiện nay đang gặp nhiều khó khăn cần được tháo gỡ.
- Thứ nhất: DN thiếu hiểu biết thị trường do công tác nghiên cứu nhu cầu, tiếp thị yếu và thiếu thông tin về thị trường công nghệ. Trên thực tế, hành trình tìm mua công nghệ của DN công nghiệp Việt Nam gần như chưa có được sự hỗ trợ, từ phía Nhà nước trong lĩnh vực tìm kiếm thông tin.
- Thứ 2: Thiếu hiểu biết về công nghệ thích hợp do không tiến hành các nghiên cứu hệ thống về công nghệ, công tác nghiên cứu thị trường còn yếu kém,
- Thứ 3: Thiếu vốn. Phần lớn các DN công nghiệp Việt Nam đều có quy mô vừa và nhỏ, nhất là các DN thuộc khu vực kinh tế tư nhân, nên việc đổi mới công nghệ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi thị trường vốn trung hạn và dài hạn trong nước gần như chưa phát triển, nên DN ít có khả năng lựa chọn nguồn vốn, mà gần như phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn vốn ngân hàng.
- Thứ 4: Thủ tục đầu tư phức tạp, mất nhiều thời gian vì cần quá nhiều cấp xét duyệt gây lãng phí tiền bạc, đôi khi mất cơ hội kinh doanh của DN, đặc biệt là đối với các DN công nghiệp thuộc khu vực kinh tế Nhà nước.
- Thứ 5: Trình độ đội ngũ quản lý DN còn yếu kém, đặc biệt là chủ DN tư nhân, cùng với một bộ phận không nhỏ người lao động chưa được đào tạo, hoặc vì lớn tuổi nên không tiếp thu được công nghệ mới, không ủng hộ đổi mới công nghệ.
- Thứ 6: Một bộ phận không nhỏ lãnh đạo các DN công nghiệp nhà nước vẫn còn tâm lý trì trệ, bám vào Nhà nước, nên thiếu quyết tâm trong đổi mới công nghệ do không phải chịu sức ép cạnh tranh.
Để tạo thuận lợi cho các DN công nghiệp Việt Nam trong việc đổi mới công nghệ, giúp DN có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, cần thực hiện một số giải pháp sau:
- Hỗ trợ tạo lập thị trường công nghệ thống nhất trong cả nước, nhằm cung cấp đẩy đủ thông tin về công nghệ, thị trường, các bên cần mua, cần bán để giúp DN có cơ hội cập nhật, lựa chọn và xác lập phương án đổi mới công nghệ tốt nhất. Đồng thời xây dựng cơ chế gắn kết giữa DN với các tổ chức nghiên cứu triển khai và các nhà khoa học.
- Có chính sách thông thoáng hơn trong việc giúp DN tiếp cận nguồn vốn trung và dài hạn để đầu tư đổi mới công nghệ, đặc biệt là với các DN công nghiệp tư nhân.
- Hỗ trợ DN trong việc đào tạo đội ngũ để có thể lựa chọn, tiếp thu, vận hành và làm chủ công nghệ.
- Đẩy mạnh cải cách, tiến tới xoá bỏ hoàn toàn bao cấp và hỗ trợ đối với DNNN, có cơ chế thông thoáng để DNNN tham gia chủ động, tích cực vào việc đổi mới công nghệ.
- Thực hiện tốt chính sách bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
- Xây dựng và thực hiện những chương trình phổ biến rộng rãi khoa học kỹ thuật, khuyến khích các doanh nghiệp cải tiến công nghệ.
