Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngành Công nghiệp và Thương mại thành phố từng bước vượt qua khó khăn của thời kỳ kinh tế bao cấp, dần dần thích ứng với cơ chế quản lý mới và đi vào ổn định, đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Giai đoạn 1976 – 1985, Công nghiệp Tp. Hồ Chí Minh so với công nghiệp cả nước không ngừng được tăng lên, từ chỗ chỉ chiếm 16,8% giá trị tổng sản lượng công nghiệp cả nước vào năm 1976 thì đến năm 1980 đã chiếm 23,7% và năm 1985 là 31%. Giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp thời kỳ này tăng 5,8%/năm, nhưng do chỉ chiếm khoảng 26 – 30% giá trị tổng sản phẩm nội địa, nên đóng góp của công nghiệp vào tăng trưởng kinh tế không cao.
Giai đoạn 1986 – 1990 là thời kỳ Tp.Hồ Chí Minh cùng cả nước tiến hành công cuộc đổi mới theo Nghị quyết Đại hội VI đã xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa và thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, giao quyền tự chủ cho doanh nghiệp nhà nước.
Thời kỳ 1991 – 2000, công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao. Các chính sách cải cách kinh tế về giá cả, thuế, ngoại thương và tài chính bắt đầu có tác dụng. Tốc độ tăng trưởng GDP công nghiệp bình quân là 16,6%, với thế mạnh là công nghiệp chế biến. Các sản phẩm công nghiệp của thành phố ngày càng đa dạng với mẫu mã, bao bì và chất lượng tốt hơn, không những đáp ứng được nhu cầu cho thành phố, mà còn tiêu thụ ở các tỉnh, thành trong cả nước, kể cả phục vụ xuất khẩu. Việc chuyển đổi trọng tâm trong chính sách công nghiệp sang sản xuất hàng tiêu dùng và hàng phục vụ xuất khẩu đã tạo chuyển biến trong cơ cấu nội bộ của ngành công nghiệp chế biến thành phố, đưa tỷ trọng hàng công nghiệp chế biến trong xuất khẩu tăng từ 20,4% năm 1991 lên đến 48,4% năm 1995, dẫn đầu cả nước về kim ngạch xuất khẩu...
Từ năm 2001 – 2010, ngành Công nghiệp của thành phố tăng trưởng tương đối cao, đa dạng, đa thành phần kinh tế, có sự chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều doanh nghiệp đã tăng cường đầu tư đổi mới thiết bị máy móc, ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất đi vào hoạt động nên tốc độ tăng trưởng luôn ở mức cao, xứng đáng với vai trò là đầu tàu công nghiệp của cả nước. Nhiều sản phẩm công nghiệp của thành phố được người tiêu dùng cả nước tin cậy, là hàng Việt Nam chất lượng cao và chiếm tỷ trọng lớn như các loại sản phẩm về sữa chiếm 72%, thuốc lá 58%, bột giặt 52%, vải các loại 51%,... Tất cả các sản phẩm gia dụng, sản phẩm công nghiệp của thành phố đều chiếm vị trí cao trong bảng xếp hạng toàn quốc. Giá trị các mặt hàng xuất khẩu chiếm đến 86% tổng kim ngạch xuất khẩu. Tính đến nay, Tp.Hồ Chí Minh có 15 khu công nghiệp, khu chế xuất và trên 30 cụm công nghiệp địa phương, nối liền với các khu công nghiệp của tỉnh Bình Dương, Tp. Biên Hòa và tỉnh Long An. Mô hình kinh tế mở theo cơ chế kinh tế thị trường này đã khẳng định được hiệu quả kinh tế, và cũng từ đó đã tạo ra cho Tp.Hồ Chí Minh trong phát triển khu chế xuất, khu công nghiệp cần chú trọng chất lượng tăng trưởng với công nghiệp có trình độ cao và công nghiệp mũi nhọn.
Về thương mại, Tp.Hồ Chí Minh có ưu thế vượt trội hơn so với các tỉnh trong vùng và cả nước nên hầu hết các dịch vụ cao cấp, hiện đại và quan trọng phục vụ phát triển sản xuất ở các địa phương khác đều do thành phố cung cấp. Đây cũng là nơi có tốc độ tăng trưởng cao nhất nước về hệ thống thương mại (tăng đến 40%). Thị trường nội địa của thành phố phát triển và sôi động nhất nước, chiếm tới 22,9% thị phần toàn quốc. Nơi đây có một mạng lưới chợ đầu mối mà từ đó hàng hóa được đưa về tất cả các tỉnh, thành trong nước và các quốc gia lân cận. Quan hệ ngoại thương không ngừng được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình đẩy mạnh hoạt động xuất - nhập khẩu của công nghiệp thành phố.
Tp.Hồ Chí Minh cũng là đầu mối thông thương quan trọng trong việc xuất khẩu các sản phẩm như gạo, cao su, cà phê, hạt điều,... Kim ngạch xuất khẩu của thành phố luôn chiếm tỷ lệ rất cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; bình quân giai đoạn 1996 – 2008, xuất khẩu chiếm 55,3% và nhập khẩu chiếm 65,4%.
Bên cạnh đó, thành phố còn là nơi tiếp nhận hàng hóa từ các nơi chuyển về với tổng giá trị lên đến khoảng 70% tổng doanh số mua bán của cả nước, là nơi cung ứng các hàng tiêu dùng, công nghệ phẩm cũng như vật tư phục vụ sản xuất cho các tỉnh Nam Bộ, hơn nữa cũng là trung tâm của các hoạt động đại lý, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, môi giới, giao nhận,...
Những năm gần đây, sự ra đời của hàng loạt các siêu thị và các trung tâm thương mại đã tạo cho hoạt động thương mại của thành phố một diện mạo và phong cách mới. Hiện, trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh có khoảng 85 siêu thị và trên 18 trung tâm thương mại lớn, có 15 chợ bán buôn và trên 200 chợ bán lẻ. Hệ thống thương mại phát triển phục vụ tốt nhu cầu ngày càng cao và đa dạng trong đời sống hàng ngày của người dân, và đóng vai trò đầu mối giao thương quan trọng cho khu vực miền Trung và miền Nam suốt chiều dài từ Đà Nẵng tới mũi Cà Mau.
Tương lai phát triển của ngành Công Thương Tp. Hồ Chí Minh đang rộng mở, nhưng cũng đầy thách thức quyết liệt, trong đó, thách thức lớn nhất là sức cạnh tranh của doanh nghiệp về vốn, công nghệ, thị trường và sản phẩm. Để ngành Công Thương thành phố luôn giữ vững tốc độ tăng trưởng cao, xứng đáng với vai trò đầu tàu của khu vực và cả nước, Sở Công Thương thành phố đã chủ động đề ra chiến lược phát triển trong giai đoạn mới (2011 – 2015) với các nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Triển khai có hiệu quả các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm hỗ trợ ngành Công Thương thành phố tăng trưởng ổn định; giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người dân thành phố;
- Đẩy mạnh hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế công nghiệp, cơ cấu hàng xuất khẩu và phát triển thương mại điện tử; định hướng, khuyến khích tiêu dùng hợp lý, phù hợp với thu nhập của người dân và trình độ phát triển của nền kinh tế. Tập trung hỗ trợ phát triển các ngành sản xuất sản phẩm, cung cấp dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Phát triển công nghiệp, thương mại thành phố trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ; tạo bước tiến rõ rệt về chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số ngành sản phẩm;
- Nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại; tăng cường các hoạt động tổ chức hội chợ, triển lãm nhằm giúp doanh nghiệp tìm kiếm và mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Huy động mọi tiềm lực kinh tế để đầu tư phát triển hạ tầng: nguồn điện, giao thông, bến cảng, hệ thống chợ - siêu thị - trung tâm thương mại,... để phát triển ngành Công Thương;
- Tăng cường các hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường chống hàng giả kém chất lượng; kiểm soát hàng hóa nhập lậu và gian lận thương mại. Triển khai thực hiện các giải pháp: tạo nguồn hàng, dự trữ,... tăng cường theo dõi hoạt động thương mại nội địa nhằm bình ổn thị trường thành phố, bảo đảm cân đối cung cầu các loại hàng hóa thiết yếu, phục vụ tốt nhu cầu của người dân thành phố, không để xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá, nhất là vào những dịp lễ Tết;
- Xây dựng cơ chế, chính sách và hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ sản xuất nhằm tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2011 – 2015 của Tp. Hồ Chí Minh là, giảm dần tỷ trọng các ngành công nghiệp thâm dụng lao động phổ thông, hiệu quả kinh tế thấp, tăng dần giá trị sản xuất của 4 ngành công nghiệp trọng yếu là Cơ khí chế tạo, Điện tử - Công nghệ thông tin, Hóa chất – Nhựa cao su, Chế biến tinh lương thực thực phẩm; Phấn đấu đạt giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 13%/năm, kim ngạch xuất khẩu (không kể dầu thô) tăng trưởng bình quân 17%/năm; Cố gắng giữ giá cả hàng hóa ở mức ổn định trong dài hạn, chỉ số giá tiêu dùng tăng bình quân dưới 10%/năm.
Với những thành tựu đã đạt được, cùng nhiệm vụ, chiến lược đề ra, ngành Công Thương Tp. Hồ Chí Minh sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần to lớn vào sự phát triển của thành phố, xứng đáng với vị trí là trung tâm công nghiệp và thương mại lớn nhất đất nước.
Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh: Lớn mạnh cùng đất nước
TCCT
Trước năm 1975, kinh tế Sài Gòn (tên gọi trước đây của Tp. Hồ Chí Minh) chủ yếu phục vụ cho nhu cầu chiến tranh và hoàn toàn mất cân đối, công nghiệp chỉ chiếm từ 6 – 9% trong cơ cấu kinh tế của thành
