Công ty TNHH Silicat Việt An thu hút các nhà khoa học

Công ty, trong đó chỉ có 5 người có trình độ đại học, còn lại là những thợ lành nghề bậc 4-6 làm việc trực tiếp với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở các viện, trường, doanh nghiệp. Đó là những con n
 
Sau hơn 3 năm thực hiện Nghị định số 80/2007/NĐ-CP ngày 19/5/2007 về doanh nghiệp khoa học công nghệ, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức khoa học công nghệ, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, từng bước hình thành một lực lượng sản xuất mới lấy công nghệ làm then chốt. Tập thể Công ty TNHH Silicat Việt An cùng các nhà khoa học tâm huyết, trí tuệ phấn đấu để có sản phẩm cạnh tranh.

Trưởng thành bằng những sản phẩm thay thế nhập khẩu
Công ty TNHH Silicat Việt An được thành lập từ tháng 9 năm 1999 tiền thân là Xí nghiệp tập thể Việt An với số vốn ban đầu là hơn 30 triệu đồng, sản xuất một loại sản phẩm là men dùng cho tráng sắt. Văn phòng nhà xưởng hoàn toàn đi thuê của một đơn vị bạn.

Tiềm năng thế mạnh của Công ty là năng lực khoa học Công nghệ do Chủ tịch hội đồng thành viên dẫn đầu. Bên cạnh năng lực khoa học Công nghệ sẵn có lãnh đạo Công ty đã liên kết với chuyên gia công nghệ của các đơn vị khác như Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Viện Công nghệ Xạ hiếm, Viện Khoa học Nghiên cứu Sành sứ thuỷ tinh Công nghiệp đặc biệt là có sự kết hợp nghiên cứu cùng các Kỹ sư đầu ngành của các đơn vị khách hàng như Công ty CP Que hàn điện Việt Đức, Hà Việt, Kim Tín…

Một vấn đề quan trọng ban đầu là định hướng cho nghiên cứu triển khai công tác khoa học công nghệ ví dụ như nghiên cứu mặt hàng gì? Thị trường ra sao? Khả năng về công nghệ của Việt Nam thế nào và khả năng tài chính của Công ty có thể triển khai được không? Từ những suy nghĩ đó Công ty chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu sản xuất nguyên phụ liệu cho các mặt hàng sản xuất khác đang phát triển ở Việt Nam. Đặc biệt Công ty đã lựa chọn sản xuất những nguyên phụ liệu mà các ngành khác đang phải nhập khẩu và chưa có doanh nghiệp nào ở Việt Nam đã nghiên cứu sản xuất nguyên phụ liệu đó. Nghiên cứu sản xuất những nguyên phụ liệu mà Việt Nam đang nhập khẩu từ Trung Quốc là dễ hơn của Châu Âu vì công nghệ sản xuất của họ không khó lắm, dễ học được và chất lượng hàng hoá dễ đáp ứng đòi hỏi của các nhà sử dụng.

Những ưu điểm của công nghiệp sản xuất hàng nguyên phụ liệu so với sản xuất hàng hàng tiêu dùng là vốn đầu tư thấp phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Công tác tiếp thị phạm vi hẹp hơn là hàng tiêu dùng đòi hỏi doanh nghiệp phải có đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ tốt, có kho tài liệu về chuyên môn dồi dào và phải giỏi ngoại ngữ, có quan hệ rộng trong giới khoa học công nghệ.

Từ những định hướng ban đầu trong 5 năm sau khi thành lập Công ty TNHH Silicat Việt An từ sản xuất một mặt hàng là men tráng sắt đã phát triển thêm nhiều chủng loại mặt hàng. Cụ thể của quá trình phát triển như sau:
- Năm 2000 - 2001: Nghiên cứu và đưa vào sản xuất Kali Silicat, Natri Silicat phục vụ cho sản xuất que hàn điện. Mặt hàng Kali Silicat đã thay thế hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.
- Năm 2002: Nghiên cứu và đưa vào sản xuất mặt hàng men Frit dùng cho công nghiệp sản xuất gạch ốp lát Ceramic và Granit thay thế một phần cho men nhập khẩu từ Tây Ban Nha và Italia.
- Năm 2003 - 2004: Nghiên cứu và đưa vào sản xuất mặt hàng Ilmenit hoàn nguyên dùng cho công nghiệp sản xuất que hàn điện thay thế cho hàng nhập khẩu từ Trung Quốc.
- Năm 2005: Nghiên cứu sản xuất Oxit sắt đỏ từ Xỉ thải của Nhà máy Super phốt phát Lâm Thao.
- Năm 2008: Nghiên cứu sản xuất thuốc hàn gốm dùng cho công nghệ hàn hồ quang chìm.
Nhìn chung Công ty chúng tôi có sự phát triển không ngừng về mọi mặt. Giá trị sản xuất hàng hoá từ 600 triệu năm 1999 đến năm 2009 đã đạt 26 tỷ đồng. Mặt bằng nhà xưởng từ chỗ phải đi thuê nay đã xây dựng được 2 khu sản xuất có tổng diện tích trên 6.000 m2 và 3.000 m2 nhà xưởng.

Không ngừng nghiên cứu khoa học công nghệ
Công tác nghiên cứu khoa học công nghệ và đưa ứng dụng vào thực tiễn là thành tích nổi bật của Công ty TNHH Silicat Việt An trong thời gian qua. Các đề tài nghiên cứu đã làm lợi cho Công ty và xã hội hàng tỷ đồng. Đồng thời đã tạo việc làm mới cho hàng trăm lượt người. Phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật được phát huy rộng rãi trong toàn thể Cán bộ công nhân Công ty. Phong trào phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật không chỉ làm lợi về kinh tế, tạo việc làm mà còn tham gia giảm thiểu ô nhiễm môi trường, cải thiện điều kiện lao động, giúp tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản xuất tăng khả năng cạnh tranh cho các mặt hàng của Công ty. Sau đây là một số đề tài cụ thể:

Đề tài: “Nghiên cứu công nghệ sản xuất men Frit bằng lò quay với nguyên liệu khoáng trong nước”. Đề tài đã được Hội đồng khoa học do Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường - thuộc trường Đại học Quốc gia Hà Nội làm chủ tịch đánh giá vào loại xuất sắc. Đề tài đã được “Sở Khoa học Công nghệ thành phố Hải Phòng cấp kinh phí thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm 300 tấn. Các loại men như men Engobe, men phủ trong do dự án sản xuất dùng cho gạch ốp lát Ceramic và Granit đã được khách hàng chấp nhận về chất lượng và giá cả. Cho đến nay sản xuất men Frit, sản phẩm của dự án là một trong những sản phẩm chủ lực của Công ty TNHH Silicát Việt An. Hiệu quả của đề tài là: Vốn đầu tư thiết bị công nghệ chỉ bằng 10% giá trị nhập ngoại (ví dụ, thiết bị lò quay nấu men nhập của Đức là 6 triệu USD). Giá bán sản phẩm chỉ bằng 70% giá nhập từ Tây Ban Nha hoặc Italia. Dự án đã giải quyết 20 việc làm mới. Đề tài đã được nhận giả thưởng ViFoTec năm 2006.

Đề tài “Nghiên cứu sản xuất Ilmenit hoàn nguyên từ sa khoáng và quặng Ilmenit bằng lò tuylen đốt than trực tiếp dùng cho sản xuất que hàn điện. Đề tài nghiên cứu của Công ty kết hợp với trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội. Đề tài đã được Hội đồng khoa học đánh giá xuất sắc và được sở KHCN Hải Phòng cấp kinh phí sản xuất thử nghiệm 400 tấn.

Đến nay đề tài đã phát huy tác dụng sản xuất hàng năm trên 2.000 tấn Ilmenit hoàn nguyên phục vụ cho 90% các Công ty sản xuất que hàn điện cả nước. Các Công ty sản xuất que hàn điện lớn của Việt Nam như Việt Đức, Kim Tín, Hà Việt, Khánh Hội, Vạn Đạt đã dùng 100% Ilmenit hoàn nguyên của Công ty thay thế hàng nhập từ Trung Quốc. Hiệu quả kinh tế của đề tài là: Giá đầu tư chỉ bằng 12% so với giá chào hàng từ Trung Quốc; Giá sản phẩm chỉ bằng 80% giá nhập khẩu từ Trung Quốc; Tạo được 30 việc làm mới; Sản phẩm chủ lực của Công ty Silicat Việt An hiện nay.

Đề tài “Nghiên cứu sản xuất thuỷ tinh nước Kali bằng lò bể nóc kép sử dụng nhiên liệu dầu thực vật dùng cho sản xuất que hàn điện thay thế hàng nhập khẩu.
Đề tài đã được Hội đồng Khoa học đánh giá loại suất sắc và đã đưa vào sản xuất công nghiệp. Hiện nay Công ty TNHH Sililcat Việt An có thể sản xuất 1.500 đến 2.000 tấn mỗi năm, có đủ các chủng loại modul từ 2.0 đến 4.0 thay thế hoàn toàn hàng nhập khẩu từ Trung Quốc, Đức. Tất cả các Nhà máy que hàn ở Việt Nam từ Miền Bắc, Miền Trung tới Miền Nam đều sử dụng thuỷ tinh nước Kali do Công ty sản xuất. Giá bán của Công ty TNHH Silicat Việt An chỉ bằng 80% giá nhập khẩu từ Trung Quốc và 70% giá nhập khẩu từ Đức.

Sản phẩm thuỷ tinh nước Kali là một trong sản phẩm chủ lực của Công ty và chúng không chỉ sử dụng cho que hàn điện mà còn dùng cho một số ngành khác như để chế tạo sơn màu cho tấm lợp Fibrocement của Viện Khoa học Vật liệu (Bộ xây dựng) và để chế tạo ống dẫn ôxy chịu nhiệt trong lò luyện kim của một doanh nghiệp nước ngoài.

Ngoài những đề tài trên Công ty TNHH Silicat Việt An còn nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật giảm tiêu hao nhiên liệu, tăng năng suất lao động, giảm cường độ lao động, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Là một ngành công nghiệp sử dụng nhiều nhiên liệu cho nên chúng tôi luôn luôn đặt vấn đề sử dụng nhiên liệu tiết kiệm nhất, năng suất của lò nấu cao nhất. Để có thể đạt được những mục đích nêu trên cần giải quyết các vấn đề về kỹ thuật công nghệ như: thiết kế lò nấu, hệ thống thiết bị đốt, chọn nhiên liệu, thu hồi nhiệt dư thừa của khí thải. Từ cách nêu vấn đề tập thể cán bộ kỹ sư của Công ty đã giải quyết vấn đề bằng ứng dụng cho lò bể nấu thuỷ tinh nước. Xin được đưa ra một ví dụ: Lò nấu thuỷ tinh nước là dạng lò bể có dung tích 1,5m x 3.5m = 5,25m là lò có diện tích nhỏ so với lò nấu thông thường. Chúng tôi đã thiết kế lò có kiểu nóc kép hai tầng. Ngọn lửa đốt hình chữ U. Khí thải qua buồng thu hồi nhiệt bằng kim loại trước khi ra ống khói. Như vậy lò được sử dụng nhiệt tối đa bằng nóc kép (cách nhiệt) và lửa hình chữ U (ngọn lửa chạy hai vòng trong lò) và thu hồi nhiệt để sấy gió cung cấp cho bép đốt. Toàn bộ phần thân lò chứa thuỷ tinh nóng chảy được bảo ôn bằng gạch Samot xốp.

Về phần nhiên liệu thông thường được sử dụng là dầu FO (hay còn gọi là dầu nặng). Giá dầu FO ngày càng tăng đòi hỏi cần nghiên cứu để thay loại nhiên liệu khác có giá thấp hơn thì sản phẩm của Công ty mới có thể cạnh tranh trên thị trường nhất là với sản phẩm của Trung Quốc. Qua nhiều nguồn thông tin Công ty đã tìm được nguồn nhiên liệu thay thế là dầu vỏ điều giá chỉ bằng 70% giá dầu FO. Quan trọng hơn là dùng dầu vỏ điều giảm thiểu được ô nhiễm môi trường do khí thải vì là dầu thực vật nên chúng không có lưu huỳnh. Chúng ta biết lưu huỳnh là tác nhân gây ô nhiễm môi trường và cũng là tác nhân gây ăn mòn, phá huỷ lò nấu nhanh nhất. Để sử dụng được dầu thực vật tập thể cán bộ kỹ sư của Công ty mất nhiều thời gian công sức để chế tạo bộ bép đốt mới.

Kết quả đến nay các lò ở Công ty dùng 100% nhiên liệu là dầu thực vật. Năng suất nấu riêng phần của lò nấu thuỷ tinh nước đạt 1.6 - 1.7 tấn/m2/24h cao hơn các lò thông thường từ 300 kg - 400 kg/m2/24h. Nhờ các kết quả nghiên cứu nên giá bán sản phẩm thuỷ tinh nước Kali của Công ty TNHH Silicat Việt An chỉ bằng 70% giá nhập khẩu từ Trung Quốc mặc dù nguyên liệu quan trọng là K2CO3 Công ty phải nhập khẩu từ nước ngoài.

Kết quả trên là cố gắng của tập thể gần 80 cán bộ, công nhân viên Công ty, trong đó chỉ có 5 người có trình độ đại học, còn lại là những thợ lành nghề bậc 4-6 làm việc trực tiếp với đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật ở các viện, trường, doanh nghiệp. Đó là những con người tâm huyết với công việc, niềm vui không chỉ ở thu nhập mà ở sáng kiến, minh chứng cho khả năng của người Việt Nam tạo ra những sản phẩm thay thế nhập khẩu, tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước, tăng giá trị gia tăng trong sản phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn và một số kiến nghị
Qua mười năm xây dựng và trưởng thành, xây dựng và phát triển doanh nghiệp từ vốn ban đầu là khả năng khoa học công nghệ Công ty TNHH Silicat Việt An - Thành phố Hải Phòng tổng kết rút ra một số kinh nghiệm sau:

Thứ nhất, đối với chủ doanh nghiệp khoa học công nghệ ngoài khả năng của một nhà Khoa học và Công nghệ thì phải có khả năng của một doanh nhân. Thực tế cho thấy có nhiều doanh nhân thành đạt nhưng họ không phải là nhà khoa học công nghệ. Ngược lại có nhiều nhà khoa học đã làm doanh nhân nhưng không thành đạt. Cái thời mà nghiên cứu để đưa vào sản xuất mặt hàng mới bằng mọi giá đã lỗi thời. Trước khi nghiên cứu triển khai thực nghiệm sản phẩm mới cần phải trả lời một số câu hỏi như: thị trường ở đâu? Giá bán của thị trường mặt hàng đó thế nào? Khả năng giá thành của mình là bao nhiêu? Liệu có lãi không? Khả năng cạnh tranh với hàng nhập ngoại như thế nào? Để loại bớt sự cạnh tranh trong nước nên nghiên cứu triển khai những sản phẩm trong nước chưa có doanh nghiệp nào sản xuất. Trong thực tế hiện nay nước ta còn đang nhập khẩu rất nhiều nguyên phụ liệu, phụ tùng máy móc từ nước ngoài. Thị trường của chúng ta còn đang bỏ ngỏ cho doanh nghiệp ngoài nước. Sân chơi cho các nhà khoa học công nghệ của nước ta còn rất rộng. Tuy nhiên do có thể sự tính toán trước chưa kỹ hoặc chưa đúng mà có nhiều sản phẩm mới của nhiều nhà khoa học công nghệ của ta không chiếm được thị phần vì giá bán quá cao so với thị trường. Do vậy chúng ta phải lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí cơ bản, sự thành công của nghiên cứu khoa học chỉ là thứ yếu, chỉ là trợ giúp cho quá trình kinh doanh.

Thứ hai, cần có quan hệ rộng rãi, quan hệ sâu sắc với các nhà khoa học công nghệ ở các viện nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng và các đơn vị sử dụng sản phẩm do mình nghiên cứu thực nghiệm. Có những vấn đề khó mà trong nước chưa giải quyết được có thể ra nước ngoài, nước xuất khẩu hàng hóa vào Việt Nam để học hỏi, tìm kiếm, hợp tác.

Thứ ba, chủ doanh nghiệp khoa học công nghệ cần có sự say mê nghiên cứu, thực nghiệm. Đã có và sẽ có rất nhiều thất bại trong quá trình nghiên cứu thực nghiệm song cứ mạnh dạn thực hiện ý tưởng của mình không nên nản chí. Tổng hợp kết quả chúng ta sẽ được nhiều hơn là mất.
Thứ tư, cần có chính sách đãi ngộ xứng đáng với những người tham gia nghiên cứu họ không nhất thiết phải có mặt tại doanh nghiệp mà làm việc theo kiểu thông tấn từ xa qua điện thoại, email …. Xét tuỳ từng sự việc và kết quả để trả lương cho xứng đáng với chất sám của người đóng góp.

Chúng tôi rất hoan nghênh và tán đồng với Nghị định 80/2007/NĐ-CP của Chính phủ. Trên cơ sở đó sẽ khuyến khích cho nhiều doanh nghiệp đã và đang hoạt động khoa học công nghệ và các doanh nghệp chưa hoạt động trong lĩnh vực này sẽ phấn đấu trở thành doanh nghiệp khoa học công nghệ. Những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế trước bạ, như thế là thoả đáng cho doanh nghiệp. Thực tế hiện nay các doanh nghiệp khoa học công nghệ còn có khó khăn lớn nhất là về vốn lưu động, vốn cho nghiên cứu. Có những ý tưởng hay và có thể hiệu quả song cần đến vốn thì lại không thu xếp được đành phải nuôi ý tưởng chờ cơ hội.

Chúng tôi có kiến nghị cần tăng thêm kinh phí cho các đề tài nghiên cứu và thực nghiệm, ứng dụng nhất là ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Mức như hiện nay là quá thấp. Đề nghị cấp kinh phí nghiên cứu cho các đề tài do doanh nghiệp tự đứng ra tổ chức Hội đồng Khoa học để bảo vệ có sự bảo trợ giám sát của sở Khoa học Công nghệ nơi doanh nghệp đứng chân.

Mặt khác nhà nước có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khác trong nước sử dụng nguyên phụ liệu do trong nước sản xuất thay cho hàng nhập khẩu. Đồng thời có hàng rào kỹ thuật, thuế quan bảo hộ những mặt hàng nguyên phụ liệu nhập khẩu đã sản xuất được trong nước. Các dự án khai thác chế biến khoáng sản không nên vội giao cho các Công ty nước ngoài. Chính phủ mạnh dạn giao cho các nhà khoa học công nghệ trong nước nghiên cứu, chế biến./.