Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu chịu nhiều biến động phức tạp từ các yếu tố địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng và sự gia tăng của các hàng rào phòng vệ thương mại, ngành công nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ cùng sản phẩm gỗ của Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn và thử thách đan xen.
Tại Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài tháng 10/2026 do Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức với chủ đề “Đa dạng hóa thị trường, thúc đẩy xuất khẩu sản phẩm gỗ, nội thất Việt Nam”, đại diện cơ quan quản lý nhà nước, hệ thống thương vụ Việt Nam tại nước ngoài, hiệp hội và doanh nghiệp đã tập trung thảo luận, tìm kiếm giải pháp mở rộng thị trường và gia tăng giá trị cho ngành xuất khẩu gỗ trong giai đoạn mới.
Bức tranh xuất khẩu ngành gỗ: Tăng trưởng quy mô đan xen rào cản từ cấu trúc thị trường
Theo số liệu được chia sẻ tại hội nghị, năm 2025, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt khoảng 17,2 tỷ USD, tiếp tục giữ vị trí trong top các ngành xuất khẩu hàng đầu của cả nước. Trong 9 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu của nhóm hàng này ước đạt gần 13,43 tỷ USD, tăng trưởng gần 6,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Đánh giá về kết quả này, ông Lê Hoàng Tài - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại cho biết, đây là tín hiệu đáng ghi nhận thể hiện nỗ lực duy trì sản xuất, tìm kiếm đơn hàng và khả năng thích ứng linh hoạt của cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, đà tăng trưởng cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động của thị trường. Hiện nay, chính sách thương mại, thuế quan và các biện pháp phòng vệ thương mại tại những thị trường lớn vẫn là những nội dung trọng tâm cần theo dõi sát sao.
Ông Lê Hoàng Tài nhấn mạnh: “Việc quản trị xuất xứ, bảo đảm nguồn gốc nguyên liệu và đáp ứng yêu cầu khắt khe của từng thị trường cần được doanh nghiệp chủ động chuẩn bị ngay từ khâu tổ chức sản xuất. Vì vậy, đa dạng hóa thị trường không đơn thuần là giải pháp tìm kiếm thêm đơn hàng mà còn phải gắn liền với nâng cao giá trị sản phẩm và năng lực cạnh tranh. Bên cạnh việc củng cố các thị trường truyền thống, doanh nghiệp cần tích cực khai thác thị trường tiềm năng và lựa chọn phân khúc phù hợp với năng lực thực tế.”
Ông Lê Hoàng Tài - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại nhấn mạnh, đa dạng hóa thị trường không đơn thuần là giải pháp tìm kiếm thêm đơn hàng mà còn phải gắn liền với nâng cao giá trị sản phẩm và năng lực cạnh tranh
Định hướng này hoàn toàn phù hợp với Chương trình vươn ra thị trường quốc tế (Go Global) giai đoạn 2026 - 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 626 ngày 06/04/2026, cũng như chương trình hành động triển khai của Bộ Công Thương. Đa dạng hóa thị trường không chỉ đơn thuần là đưa sản phẩm hiện có đến một địa điểm mới. Yếu tố quan trọng là phải nắm bắt rõ nhu cầu của khách hàng, những điều kiện tiêu chuẩn mà sản phẩm cần đáp ứng và kênh tiếp cận khách hàng hiệu quả.
Song song với việc nâng cao năng lực sản xuất, các doanh nghiệp cần đặc biệt chú trọng khâu thiết kế, phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu, từ đó từng bước nâng cao khả năng tham gia vào các khâu tạo ra giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thông tin thêm về thị trường, ông Phùng Quốc Mẫn - Chủ tịch Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP. Hồ Chí Minh (HAWA) cho biết, Việt Nam hiện đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu đồ gỗ nội thất, chỉ sau Trung Quốc, đồng thời sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt tại 167 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Vị thế này được xây dựng từ năng lực sản xuất, tay nghề và khả năng đáp ứng những yêu cầu khắt khe của khách hàng quốc tế. Cụ thể, doanh nghiệp Việt Nam có khả năng cung ứng đa dạng, từ nội thất gia đình, văn phòng, ngoài trời đến sản phẩm phục vụ công trình và khách sạn. Cùng với đó, các đơn vị trong ngành đang tích cực đầu tư vào thiết kế, công nghệ, quản trị và phát triển nguồn nguyên liệu hợp pháp, bền vững.
Tuy nhiên, báo cáo từ Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) cũng chỉ ra cấu trúc xuất khẩu hiện tại tồn tại sự lệch pha khi mô hình gia công OEM còn chiếm tỷ lệ cao và thị trường Hoa Kỳ chiếm tới 55% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2025 với 9,46 tỷ USD, tiếp theo là Nhật Bản với 2,15 tỷ USD (12,5%), Trung Quốc với 2,09 tỷ USD (12,1%), Hàn Quốc với 0,71 tỷ USD (4,1%) và EU với 0,66 tỷ USD (3,8%).
Song song với đó, cơ cấu các nhóm sản phẩm xuất khẩu hiện nay ghi nhận đồ gỗ nội và ngoại thất chiếm từ 65% đến 70%, dăm gỗ chiếm 15%, viên nén gỗ chiếm 7%, các loại ván gỗ chiếm 5% và nhóm khác chiếm từ 3% đến 5%. Mặc dù thặng dư thương mại của ngành gỗ đạt mức cao với xuất siêu khoảng 14 tỷ USD trong năm 2025 (xuất khẩu 17,204 tỷ USD và nhập khẩu 3,22 tỷ USD), phần giá trị gia tăng giữ lại trong nước vẫn hạn chế do chi phí nguyên liệu, logistics và chi phí tuân thủ gia tăng.
Bên cạnh đó, ngành gỗ còn đang chịu tác động lớn từ các rào cản pháp lý quốc tế như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với doanh nghiệp lớn và vừa, các quy định về gỗ hợp pháp VPA/FLEGT, CITES, chứng chỉ rừng FSC, PEFC, VFCS, cùng các chính sách thuế quan khắt khe từ thị trường Hoa Kỳ bao gồm thuế theo Mục 232, Mục 301 và các vụ điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp đối với gỗ dán.
Những yếu tố này được phản ánh rõ qua kết quả thực tế khi 9 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu nhóm sản phẩm gỗ chế biến sâu đạt 8,56 tỷ USD và gần như không tăng trưởng do biến động từ thị trường. Trong khi đà tăng trưởng chung của toàn ngành chủ yếu dựa vào nhóm dăm gỗ và ván công nghiệp.

Đánh giá thực trạng này, ông Ngô Sỹ Hoài - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) nhìn nhận đằng sau những con số kim ngạch xuất khẩu vẫn còn một câu hỏi lớn: doanh nghiệp Việt Nam đang nắm giữ bao nhiêu giá trị từ khâu thiết kế, thương hiệu đến kênh phân phối. Đại diện VIFOREST cũng đưa ra cảnh báo việc gia tăng kim ngạch xuất khẩu thuần túy chưa đồng nghĩa với việc đã nâng cao được giá trị cho các dòng sản phẩm chế biến sâu.
Tiềm năng và cơ hội tại các thị trường trọng điểm qua góc nhìn của Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài
Tại hội nghị giao ban, đại diện các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài đã cung cấp những góc nhìn toàn diện về quy mô, dư địa phát triển cũng như những tiêu chuẩn kỹ thuật mới mà doanh nghiệp trong nước cần lưu ý khi xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ.
Đánh giá về thị trường Hà Lan, bà Võ Thị Ngọc Diệp - Tham tán Thương mại Việt Nam tại Hà Lan cho biết, trong 9 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Hà Lan đạt hơn 13 tỷ USD, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Hà Lan đạt hơn 12,3 tỷ USD, tăng 27,6%.
Đáng chú ý, gỗ và sản phẩm gỗ là nhóm hàng đứng thứ hai về tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường này với mức tăng 86%, đạt giá trị 158 triệu USD. Hà Lan hiện đóng vai trò là cửa ngõ quan trọng giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận các nhà nhập khẩu và bán lẻ trong toàn bộ Liên minh Châu Âu (EU) nhờ hệ thống cảng biển và mạng lưới phân phối phát triển.
Về nhu cầu, bà Võ Thị Ngọc Diệp thông tin, người tiêu dùng Hà Lan ưu tiên các sản phẩm nội thất có thiết kế đơn giản, đa chức năng, tiết kiệm diện tích, có nguồn gốc hợp pháp và khả năng tái chế cao. Các nhóm hàng có tiềm năng lớn gồm nội thất phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn, bàn ghế ngoài trời, đồ gỗ lắp ráp và đồ gỗ kết hợp mây tre.
Đối với thị trường Tây Ban Nha, ông Lưu Vạn Khang - Tham tán Thương mại Việt Nam tại Tây Ban Nha cho biết, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng gỗ và sản phẩm từ gỗ của Tây Ban Nha từ Việt Nam ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ. Theo số liệu của DataComex, trong 7 tháng đầu năm 2024, Tây Ban Nha nhập khẩu từ Việt Nam khoảng 1,8 triệu USD; cùng kỳ năm 2025 tăng lên 3,94 triệu USD và trong 7 tháng đầu năm 2026 đã đạt 9,38 triệu USD, tương ứng mức tăng 138% so với năm 2025 và cao gấp 5 lần so với năm 2024.
Tây Ban Nha có nhu cầu lớn về đa dạng hóa nguồn cung ngoài các thị trường truyền thống. Bên cạnh các dòng nội thất gia đình và ngoại thất kết hợp vật liệu tự nhiên, phân khúc nội thất phục vụ dự án khách sạn, nhà hàng và công trình thương mại đang mở ra nhiều dư địa cho các nhà sản xuất có năng lực thiết kế và cung ứng linh hoạt.
Tại khu vực Châu Đại Dương, bà Trần Thị Thanh Mỹ - Phó Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Sydney, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại Úc nhận định, thị trường gỗ tại Úc đang trên đà phục hồi gắn liền với sự phát triển của ngành xây dựng và nhu cầu nhà ở.
Trong năm tài chính 2024 - 2025, tổng giá trị nhập khẩu lâm sản và gỗ của Úc đạt khoảng 6,83 tỷ AUD (tương đương 4,5 tỷ USD), tăng 5% so với kỳ trước, trong đó Việt Nam đứng thứ 7 về cung cấp gỗ cho thị trường này với giá trị 125 triệu USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Úc đạt 125,4 triệu USD, tăng trên 7% so với cùng kỳ.
Dự báo nhu cầu gỗ phục vụ xây dựng tại Úc có thể tăng đến 50% từ nay đến năm 2050. Các phân khúc tiềm năng lớn bao gồm đồ gỗ nội thất (mã HS 9401 và 9403), đồ nội thất thông minh, đa năng và nội thất công nghiệp phục vụ công trình dân dụng lẫn thương mại. Khách hàng tại Úc đặc biệt ưa chuộng phong cách hiện đại, tối giản, màu sắc tự nhiên và tính chống chịu thời tiết cao.
Tại thị trường Nam Á, ông Bùi Trung Thướng - Tham tán Thương mại Việt Nam tại Ấn Độ (kiêm nhiệm Nepal, Bhutan) chia sẻ, Ấn Độ là thị trường quy mô lớn với dân số hơn 1,4 tỷ người. Thị trường đồ gỗ và nội thất của Ấn Độ hiện được định giá khoảng 22 tỷ USD và dự kiến đạt 30 đến 40 tỷ USD trong thời gian tới với tốc độ tăng trưởng 8% đến 10%/năm.
Ấn Độ nhập khẩu khoảng 2 đến 3 tỷ USD gỗ và sản phẩm gỗ mỗi năm. Cơ cấu tiêu thụ nội thất tại đây tập trung vào nhóm đồ gia dụng (chiếm 60%), nội thất văn phòng (20%) và khách sạn, nhà hàng (10%). Lợi thế lớn của doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang Ấn Độ là được hưởng thuế suất ưu đãi từ 0% đến 5% theo Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ (AIFTA), thấp hơn nhiều so với mức thuế MFN thông thường từ 20% đến 25%.
Tại khu vực Trung Đông, ông Trương Xuân Trung - Bí thư thứ nhất, Phụ trách Thương vụ Việt Nam tại UAE (kiêm nhiệm Qatar) cho biết, kim ngạch nhập khẩu sản phẩm gỗ của UAE năm 2025 đạt khoảng 3,82 tỷ USD, dự kiến đạt 3,97 tỷ USD năm 2026 và 4,85 tỷ USD vào năm 2031. Năm 2025, Việt Nam xuất khẩu sang UAE đạt 36,5 triệu USD; trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 18,3 triệu USD.
UAE đóng vai trò là đầu mối trung chuyển hàng hóa quan trọng, giúp sản phẩm Việt Nam tái xuất sang 5 nước còn lại trong khối GCC mà không bị tái đánh thuế do có cơ chế hải quan chung, đồng thời mở cánh cửa sang Bắc Phi và Nam Á. Nhờ Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện (CEPA) có hiệu lực từ ngày 03/02/2026, mức thuế nhập khẩu 5% của UAE đối với nhiều mặt hàng gỗ Việt Nam được giảm về 0% khi có Giấy chứng nhận xuất xứ C/O form CEPA. Nhu cầu tiêu thụ tại UAE phân hóa rõ rệt ở các nhóm nội thất nhà ở, văn phòng, đồ gỗ trang trí cao cấp cho nhà hàng khách sạn và ván ép, gỗ dán cho các nhà thầu thi công dự án.
Tại thị trường Châu Âu, bà Hoàng Lê Hằng - Bí thư thứ nhất Thương vụ Việt Nam tại Anh (kiêm nhiệm Ireland) thông tin, tổng lượng nhập khẩu gỗ của Anh đạt 8,6 tỷ Bảng (tương đương khoảng 11,5 tỷ USD) trong năm 2025. Xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam sang Anh trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 196 triệu USD, tăng 10,3% so với cùng kỳ. Với Hiệp định thương mại tự do UKVFTA, tính đến ngày 01/01/2027, 99,2% các dòng thuế đối với sản phẩm gỗ Việt Nam xuất khẩu sang Anh sẽ được hạ về 0%, tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội về giá và thuế quan cho các doanh nghiệp trong nước.
Khuyến nghị hành động và giải pháp tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp xuất khẩu
Mặc dù tiềm năng tại các thị trường là rất lớn, đại diện hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài cũng đưa ra những cảnh báo quan trọng về các quy định kỹ thuật khắt khe và rào cản thương mại mà doanh nghiệp xuất khẩu cần bắt buộc tuân thủ. Về mặt pháp lý và tiêu chuẩn môi trường, thị trường Châu Âu đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt đối với Quy định chống mất rừng (EUDR), bắt buộc hàng hóa phải có nguồn gốc hợp pháp, không liên quan đến mất rừng sau ngày 31/12/2020 và đáp ứng nghĩa vụ thẩm định chuỗi cung ứng, bên cạnh các quy định về an toàn sản phẩm chung (GPSR), hạn chế hóa chất (REACH) và quy định bao bì (PPWR).
Tại thị trường Úc, Luật Ngăn chặn gỗ khai thác bất hợp pháp sửa đổi áp dụng từ ngày 01/03/2025 yêu cầu nhà nhập khẩu thực hiện trách nhiệm giải trình và thu thập hồ sơ truy xuất nguồn gốc từ vùng trồng đến cơ sở chế biến, đồng thời tuân thủ kiểm dịch an toàn sinh học BICON, xử lý độ ẩm ISPM 15 và quy định nhãn mác ACCC. Tại Ấn Độ, doanh nghiệp cần chú ý các rào cản về thuế chống bán phá giá và yêu cầu bắt buộc phải có chứng nhận chất lượng BIS đối với mặt hàng gỗ dán, ván ép. Đối với thị trường UAE, các đơn vị xuất khẩu cần cập nhật quy định áp dụng mã HS 12 chữ số và chủ động xin cấp Giấy chứng nhận xuất xứ C/O form CEPA để thụ hưởng ưu đãi thuế.
Để vượt qua các rào cản và khai thác tối đa dư địa thị trường, hệ thống Thương vụ khuyến nghị các doanh nghiệp Việt Nam cần thay đổi tư duy tiếp cận thương mại. Trước hết, doanh nghiệp cần chủ động chuyển dịch từ cạnh tranh về giá sang nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến thiết kế, ứng dụng công nghệ và xây dựng thương hiệu riêng thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào mô hình gia công giá rẻ.
Việc chuẩn bị sẵn sàng bộ hồ sơ số năng lực doanh nghiệp, chứng nhận nguồn gốc nguyên liệu hợp pháp (FSC, PEFC) và tuân thủ các quy định tiêu chuẩn xanh là điều kiện tiên quyết để tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, về phương thức xúc tiến thương mại, các Thương vụ đề xuất chuyển đổi mô hình từ việc doanh nghiệp tham gia các hội chợ riêng lẻ sang thiết lập khu gian hàng quốc gia mang nhận diện chung của Việt Nam. Mô hình xúc tiến này cần được triển khai bài bản theo quy trình hướng tới đúng nhà mua hàng, bao gồm việc nghiên cứu xác định buyer mapping trước hội chợ, kết nối giao thương B2B trực tiếp trong hội chợ và duy trì hỗ trợ theo dõi hợp đồng sau sự kiện.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng được khuyến nghị tận dụng tối đa các kênh bán hàng trực tuyến đang phát triển mạnh tại thị trường Châu Âu và UAE, tham gia các triển lãm chuyên ngành uy tín tại địa bàn sở tại, đồng thời chủ động liên kết với các hiệp hội nhập khẩu, chuỗi bán lẻ quốc tế và cân nhắc giải pháp đầu tư liên doanh sản xuất tại các thị trường tiềm năng nhằm chủ động chuỗi cung ứng và tối ưu hóa chính sách ưu đãi địa phương.
Đồng quan điểm với đánh giá từ thị trường quốc tế, đại diện các hiệp hội ngành hàng cho rằng việc thay đổi tư duy thương mại và chuyển dịch mô hình tăng trưởng là giải pháp cấp thiết cho sự phát triển bền vững của ngành gỗ. Ông Phùng Quốc Mẫn (HAWA) và ông Ngô Sỹ Hoài (VIFOREST) đều thống nhất rằng, bên cạnh việc củng cố các thị trường truyền thống, doanh nghiệp trong nước cần chủ động mở rộng không gian phát triển sang những thị trường tiềm năng còn nhiều dư địa. Việc đa dạng hóa thị trường, khách hàng và kênh bán không chỉ là giải pháp tình thế nhằm tìm kiếm thêm đơn hàng mà còn là chiến lược cốt lõi để giảm thiểu mức độ tập trung rủi ro.
Đi sâu vào bài toán nội lực, đại diện hai hiệp hội đều khẳng định giá trị gia tăng của sản phẩm phải được bồi đắp từ năng lực thiết kế, công nghệ, quản trị và nguồn nguyên liệu hợp pháp, bền vững. Đánh giá về mục tiêu giá trị của ngành hàng, ông Ngô Sỹ Hoài nhấn mạnh việc duy trì kim ngạch xuất khẩu lớn là chưa đủ mà bài toán quan trọng là doanh nghiệp phải bán hàng bằng thương hiệu và giữ lại giá trị cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trên cơ sở đó, hướng tới tầm nhìn chiến lược đến năm 2030, đại diện VIFOREST đề xuất định hướng chuyển dịch toàn diện từ mô hình gia công theo đơn hàng (OEM) sang tự thiết kế, phát triển sản phẩm (ODM) và tiến tới làm chủ thương hiệu độc lập (OBM), hướng đến mục tiêu xây dựng các sản phẩm mang thương hiệu Việt Nam, được thiết kế bởi người Việt và khẳng định uy tín trên trường quốc tế.
Cụ thể hóa tầm nhìn chiến lược này, đại diện VIFOREST đề xuất 5 ưu tiên hành động trọng tâm cho cộng đồng doanh nghiệp, bao gồm: đa dạng hóa thị trường và kênh phân phối; đẩy mạnh đầu tư vào thiết kế, công nghệ và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm nâng cao năng suất cùng kỹ năng nhân lực; phát triển nguồn nguyên liệu rừng trồng gỗ lớn có chứng chỉ quản lý bền vững và truy xuất nguồn gốc rõ ràng; xây dựng thương hiệu gỗ nội thất gắn liền với phát triển kênh phân phối trực tiếp; đồng thời liên kết hài hòa giữa các nhóm sản phẩm dăm gỗ, viên nén, ván gỗ và đồ mộc tinh chế nhằm tối ưu hóa giá trị thu được trên mỗi mét khối gỗ khai thác.
Bên cạnh nội lực của doanh nghiệp, để các cơ hội thị trường chuyển hóa thành đơn hàng thực tế, đại diện hai hiệp hội đặc biệt đề cao vai trò đồng hành của hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài - lực lượng tuyến đầu trong công tác ngoại giao kinh tế. Nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp, ông Phùng Quốc Mẫn đề xuất các Thương vụ hỗ trợ cung cấp thông tin trọng tâm, sát thực tế về nhu cầu sản phẩm, phân khúc khách hàng, kênh phân phối và các rào cản kỹ thuật tại địa bàn phụ trách. Từ đó phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội để kết nối đúng đối tác và duy trì theo dõi kết quả giao thương sau sự kiện.
Song song với kênh kết nối trực tuyến và quốc tế, đại diện HAWA nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động xúc tiến thương mại tại chỗ thông qua việc đề nghị các cơ quan Thương vụ tích cực quảng bá, kết nối và đưa các đoàn khách quốc tế, các hiệp hội nhập khẩu cùng hệ thống phân phối lớn về tham gia các hội chợ chuyên ngành uy tín tổ chức tại Việt Nam trong năm 2027 như HawaExpo, Triển lãm VIBE và Triển lãm Quốc tế về Gỗ và Máy chế biến gỗ. Đây được coi là phương thức xúc tiến trực tiếp và hiệu quả, giúp nhà mua hàng quốc tế kiểm chứng thực tế năng lực sản xuất, công nghệ và quy mô nhà máy của doanh nghiệp Việt Nam, qua đó chuyển hóa các cơ hội kết nối thành các đơn hàng thương mại thiết thực.
Phát biểu tổng kết hội nghị, ông Lê Hoàng Tài - Phó Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại ghi nhận và đánh giá cao những ý kiến đóng góp thiết thực, sâu sắc từ các hiệp hội ngành hàng và hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài. Những thông tin và khuyến nghị tại hội nghị đã làm rõ yêu cầu cấp thiết về việc đa dạng hóa thị trường phải luôn gắn liền với việc nâng cao năng lực thiết kế, chất lượng sản phẩm và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe. Cùng với việc củng cố các thị trường truyền thống, doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu kỹ lưỡng đặc thù từng phân khúc để tìm kiếm đối tác tin cậy, qua đó chuyển hóa các cơ hội từ các địa bàn trọng điểm thành kết quả giao thương thực tế.
Nhằm hiện thực hóa các định hướng hợp tác trong thời gian tới, hội nghị đã thống nhất triển khai 04 nhóm nội dung trọng tâm. Cụ thể, về công tác thông tin thị trường, hệ thống Thương vụ sẽ tiếp tục cập nhật kịp thời các chính sách thương mại, quy định nhập khẩu và tiêu chuẩn kỹ thuật, phối hợp cùng các hiệp hội để nắm bắt chính xác nhu cầu của hội viên.
Về công tác kết nối và xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến thương mại sẽ phối hợp với các cơ quan đại diện ở nước ngoài để mời các nhà nhập khẩu quốc tế sang giao dịch trực tiếp tại Việt Nam, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các chương trình xúc tiến phù hợp với năng lực thực tế. Bên cạnh đó, việc mở rộng thị trường phải song hành với nâng cao nội lực doanh nghiệp thông qua đầu tư thiết kế, xây dựng thương hiệu và quản trị tuân thủ.
Cục Xúc tiến thương mại sẽ tiếp thu, tổng hợp các ý kiến đóng góp để báo cáo Lãnh đạo Bộ, qua đó đưa vào Kế hoạch Xúc tiến thương mại năm 2027 nhằm hỗ trợ thiết thực và hiệu quả cho cộng đồng doanh nghiệp.
