Từ khóa:
Nghiên cứu nhằm đánh giá các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại thành phố Hải Phòng. Thông qua 278 mẫu khảo sát và các phân tích định lượng trên phần mềm SPSS 26. Kết quả cho thấy, các yếu tố ảnh hưởng gồm: Chi phí vận chuyển; Độ đáp ứng; Sự phân bổ container; Độ tin cậy; Hình ảnh thương hiệu và Công nghệ thông tin. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đưa ra một số hàm ý giúp các doanh nghiệp vận chuyển nâng cao năng lực cạnh tranh, tối ưu hóa chi phí logistics.
Từ khóa: thương hiệu vận chuyển, quyết định, doanh nghiệp xuất nhập khẩu, Hải Phòng.
1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, dịch vụ vận chuyển hàng hóa không chỉ đơn thuần là một khâu trung gian mà đã trở thành yếu tố chiến lược, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí logistics, thời gian giao hàng, mức độ an toàn của hàng hóa cũng như uy tín của doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên thị trường. Thành phố Hải Phòng là một trong những trung tâm logistics và cửa ngõ xuất nhập khẩu quan trọng của Việt Nam, với hệ thống cảng biển lớn, kết cấu hạ tầng giao thông ngày càng được đầu tư đồng bộ và sự hiện diện của nhiều doanh nghiệp vận chuyển trong nước và quốc tế. Sự phát triển nhanh chóng về số lượng và đa dạng về loại hình dịch vụ vận chuyển đã tạo ra môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các thương hiệu vận chuyển.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đứng trước nhiều lựa chọn khác nhau khi quyết định hợp tác với một thương hiệu vận chuyển, từ các doanh nghiệp lớn có uy tín lâu năm đến các đơn vị mới nổi với mức giá cạnh tranh và dịch vụ linh hoạt. Do đó, nghiên cứu nhằm đánh giá các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển của doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại thành phố Hải Phòng, qua đó cung cấp cơ sở giúp các doanh nghiệp vận chuyển xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu, nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh; đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đưa ra quyết định lựa chọn đối tác vận chuyển hiệu quả, góp phần tối ưu hóa chi phí logistics và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Thương hiệu là tập hợp các yếu tố như tên gọi, biểu tượng, ký hiệu, hình ảnh và kiểu dáng thiết kế nhằm nhận diện và phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp với các đối thủ cạnh tranh (Vũ Tiến Đạt & cộng sự, 2024). Hình ảnh thương hiệu phản ánh mức độ tin cậy và niềm tin của khách hàng đối với thương hiệu, được hình thành thông qua nhận thức, trải nghiệm và các liên tưởng mà khách hàng gắn với doanh nghiệp (Wati và cộng sự, 2020; Ambolau và cộng sự, 2015). Nghiên cứu của Hu và cộng sự (2009), Adisak (2022) đều chỉ ra, hình ảnh thương hiệu có ảnh hưởng quan trọng đến thái độ và quyết định lựa chọn của khách hàng, qua đó tác động trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng, thương hiệu không chỉ đóng vai trò nhận diện mà còn trở thành tài sản chiến lược góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, phản ánh năng lực cung ứng dịch vụ, mức độ chuyên nghiệp và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường. Đối với các doanh nghiệp vận chuyển, một thương hiệu tốt được hình thành thông qua khả năng giao hàng đúng hạn, mức độ an toàn hàng hóa, chất lượng dịch vụ, khả năng đáp ứng yêu cầu đặc thù của khách hàng cũng như hiệu quả xử lý các sự cố phát sinh trong quá trình vận chuyển.
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đã tập trung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics và vận chuyển. Kết quả nghiên cứu của Banomyong và cộng sự (2011) cho thấy độ tin cậy là yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất, đóng vai trò then chốt trong việc duy trì hoặc thay đổi nhà cung cấp dịch vụ logistics của khách hàng. Kết luận này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo cam kết dịch vụ và giảm thiểu rủi ro trong quá trình vận chuyển. Tiếp cận theo hướng mở rộng, Iqbal và Siddiqui (2017) chỉ ra rằng quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ logistics chịu tác động đồng thời của nhiều yếu tố, bao gồm độ tin cậy, chi phí vận chuyển, khả năng đáp ứng và định hướng ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông.
Kết quả này cho thấy bên cạnh các yếu tố truyền thống, yếu tố công nghệ ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vận chuyển. Hermiyenti và Wardi (2019) khẳng định giá cả và khuyến mãi có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định lựa chọn dịch vụ. Đồng thời, các yếu tố này còn tác động tích cực đến hình ảnh thương hiệu, trong khi hình ảnh thương hiệu lại có ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định mua hàng của khách hàng. Điều này cho thấy, mối quan hệ gián tiếp nhưng chặt chẽ giữa các chính sách marketing, hình ảnh thương hiệu và hành vi lựa chọn dịch vụ. Tại Việt Nam, các nghiên cứu cũng ghi nhận những kết quả tương đồng. Nguyễn Thúy Nga (2014) xác định các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến quyết định lựa chọn dịch vụ vận chuyển bao gồm độ tin cậy, chi phí vận chuyển, khả năng đáp ứng và thời gian vận chuyển. Trong khi đó, Đặng Thị Thùy Trang (2018) bổ sung thêm các yếu tố đặc thù của lĩnh vực vận chuyển như sự phân bổ container tại các cảng và định hướng, truyền thông công nghệ thông tin, bên cạnh các yếu tố truyền thống như chi phí, thời gian và độ tin cậy của dịch vụ.
Qua tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây, nghiên cứu lựa chọn và đề xuất mô hình nghiên cứu với các giả thuyết như sau: (Hình 1)
H1: Độ đáp ứng có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển.
H2: Độ tin cậy có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển.
H3: Hình ảnh thương hiệu có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển.
H4: Chi phí vận chuyển có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển.
H5: Sự phân bổ container có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển.
H6: Công nghệ thông tin có tác động tích cực đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển.
Từ mô hình và giả thuyết nghiên cứu, phương trình nghiên cứu được viết ở dạng tổng quát như sau:
QD = β0 + β1*DU + β2*TC + β3*HA + β4*CP + β5*PB + β6*CN + e
Trong đó:
QD (Yếu tố phụ thuộc): Quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển
Các yếu độc lập bao gồm (Xi): Độ đáp ứng (DU); Độ tin cậy (TC); Hình ảnh thương hiệu (HA); Chi phí vận chuyển (CP); Sự phân bổ contener (PB); Công nghệ thông tin (CN).
βk: Hệ số hồi quy (k = 0, 1, 2,...,6).
e: Sai số ngẫu nhiên
3. Phương pháp nghiên cứu
i) Nghiên cứu định tính: Thang đo sơ bộ được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trong và ngoài nước tại phần tổng quan kết hợp thảo luận với một số chủ doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hải Phòng và tham vấn ý kiến các chuyên gia trước đó để xem xét nội dung các yếu tố, biến quan sát nhằm hiệu chỉnh từ ngữ để xây dựng thang đo chính thức phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu.
ii) Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (Mức 1 - Rất không đồng ý đến Mức 5 - Rất đồng ý). Phiếu khảo sát được phát ra thực tế tuân thủ theo cỡ mấu tốt nhất (10:1) khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA của Hair và cộng sự (2010). Bằng phương pháp phi xác suất thuận tiện, phiếu khảo sát được phát trực tuyến qua email đến các nhà quản lý và nhân viên phụ trách về logistíc trong doanh nghiệp xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Thời gian khảo sát diễn ra từ tháng 5 đến tháng 8/2025. Kết quả sau khi loại bỏ các phiếu không hợp lệ thu về được 278 phiếu đủ điều kiện đưa vào phân tích trên phần mềm SPSS26 để kiểm định giả thuyết với mức ý nghĩa 5%.
4. Kết quả nghiên cứu
Bảng 1. Kết quả phân tích nhân tố khám phá
|
Hệ số KMO = 0,765 |
|||||||
|
Hệ số Sig của kiểm định Bartlett’s = 0,000 |
|||||||
|
Hệ số tải nhân tố nhỏ nhất |
|||||||
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
||
|
HA |
0,765 |
|
|
|
|
|
|
|
DU |
|
0,771 |
|
|
|
|
|
|
CN |
|
|
0,759 |
|
|
|
|
|
PB |
|
|
|
0,762 |
|
|
|
|
TC |
|
|
|
|
0,758 |
|
|
|
CP |
|
|
|
|
|
0,747 |
|
|
Cronbach’s Alpha |
0,824 |
0,805 |
0,789 |
0,816 |
0,793 |
0,801 |
|
|
Eigenvalue = 1,259 |
|||||||
|
Tổng phương sai trích = 73,936% |
|||||||
|
Hệ số KMO = 0,773 |
|||||||
|
Hệ số Sig của kiểm định Bartlett’s = 0,000 |
|||||||
|
QD |
0,774 |
||||||
|
Cronbach’s Alpha |
0,831 |
||||||
|
Eigenvalue = 1,521 |
|||||||
|
Tổng phương sai trích = 74,211% |
|||||||
Nguồn: Tác giả phân tích
Kết quả phân tích tại Bảng 1 cho thấy, hệ số Cronbach’s Alpha các yếu tố đều lớn hơn 0,7 phản ánh thang đo đạt độ tin cậy tốt. Phân tích nhân tố khám phá bằng phép quay varimax và trích components cho kết quả hệ số tải nhân tố đều trên 0,7 thể hiện sự đóng góp chặt chẽ của các biến quan sát vào từng nhân tố, tại giá trị Eigenvalue lớn hơn 1 có 6 nhân tố được trích với tổng phương sai trích đạt 73,936%, nghĩa là mô hình giải thích được 73,936% sự biến thiên của dữ liệu. Đồng thời, hệ số KMO = 0,773 thoả mãn điều kiện (lớn hơn 0,5 và nhỏ hơn 1). Kiểm định Bartlett’s có Sig = 0,000, chứng tỏ các yếu tố có mối liên hệ với nhau. Bên cạnh đó, kết quả phân tích yếu tố phụ thuộc cũng cho kết quả thỏa mãn các điều kiện theo Hair và cộng sự (2010). Do đó, số liệu phù hợp để tiếp tục thực hiện các phân tích tiếp theo.
Ngoài ra, phân tích tương quan cho thấy có mối tương quan rất tốt giữa các yếu tố độc lập với yếu tố phụ thuộc, hệ số tương quan đều lớn hơn 0,4 và giá trị Sig. nhỏ hơn 0,05. Ngoài ra giữa các yếu tố độc lập không xuất hiện nghi ngờ về hiện tượng đa cộng tuyến, thoả mãn điều kiện đưa vào phân tích hồi quy. (Bảng 2)
Bảng 2. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính
|
Mô hình |
Hệ số hồi quy chưa chuẩn hoá |
Hệ số hồi quy chuẩn hoá |
t |
Sig. |
Thống kê đa cộng tuyến |
|||
|
Beta |
Độ lệch chuẩn |
Beta chuẩn hoá |
Dung sai điều chỉnh |
VIF |
||||
|
1 |
Hằng số |
0,428 |
0,012 |
|
5,712 |
0,023 |
|
|
|
DU |
0,331 |
0,019 |
0,342 |
6,984 |
0,008 |
0,581 |
1,723 |
|
|
TC |
0,265 |
0,016 |
0,283 |
5,136 |
0,000 |
0,694 |
1,584 |
|
|
HA |
0,237 |
0,025 |
0,251 |
4,653 |
0,000 |
0,572 |
1,691 |
|
|
CP |
0,359 |
0,028 |
0,367 |
6,428 |
0,009 |
0,639 |
1,577 |
|
|
PB |
0,303 |
0,011 |
0,325 |
4,315 |
0,005 |
0,673 |
1,725 |
|
|
CN |
0,214 |
0,013 |
0,236 |
5,871 |
0,002 |
0,556 |
1,612 |
|
|
Giá trị F = 135,429; Sig. = 0,000 R2 = 0,781; R2 hiệu chỉnh = 0,762; Durbin-Watson = 1,785 a. Biến phụ thuộc: QD |
||||||||
(Nguồn: Tác giả phân tích)
Phân tích hồi quy tuyến tính theo phương pháp Enter cho kết quả hệ số R2 hiệu chỉnh đạt 0,762 thể hiện mức độ phù hợp của mô hình cao, các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến yếu tố phụ thuộc đạt 76,2%, còn lại là do sai số hoặc các yếu tố khác nằm ngoài mô hình. Hệ số Durbin - Watson bằng 1,785 đạt yêu cầu không vi phạm giả định tự tương quan chuỗi bậc nhất. Hệ số Sig. của kiểm định F nhỏ hơn 0,000 đã chỉ ra mô hình hồi quy tổng thể phù hợp với mọi cấu trúc được kiểm tra. Hệ số phóng đại phương sai VIF của các yếu tố trong mô hình đều nhỏ hơn 2 và giá trị Sig. của kiểm định t đều nhỏ hơn 0,05 do đó không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến. Bên cạnh đó, kiểm tra giả định về phân phối chuẩn của phần dư cho thấy độ lệch chuẩn Std. Dev = 0,975 và Mean = 3,16E-15 nên giả thuyết phân phối chuẩn của phần dư khi xây dựng mô hình hồi quy không bị vi phạm. Biểu đồ phân tán thể hiện sự phân tán ngẫu nhiên của các giá trị phần dư trong một vùng đi qua đường tung độ 0 và các điểm quan sát không phân tán quá xa đường thẳng kỳ vọng do đó giả định liên hệ tuyến tính không vi phạm Kết quả các giả thuyết đưa ra đều được chấp nhận, phương trình hồi quy theo hệ số beta chuẩn hoá như sau:
QD = 0,367*CP + 0,342*DU + 0,325*PB + 0,283*TC + 0,251*HA + 0,236*CN + e
5. Hàm ý quản trị
Trước hết, doanh nghiệp cần ưu tiên kiểm soát và tối ưu hóa chi phí vận chuyển, xây dựng chính sách giá minh bạch, linh hoạt theo tuyến, khối lượng và thời hạn hợp đồng để đáp ứng yêu cầu tiết kiệm chi phí của khách hàng. Doanh nghiệp cần nâng cao độ đáp ứng của dịch vụ thông qua việc cải thiện tốc độ phản hồi, xử lý nhanh các yêu cầu và sự cố phát sinh, đảm bảo tính linh hoạt trong quá trình cung ứng dịch vụ vận chuyển.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên chú trọng nâng cao năng lực phân bổ container tại các cảng, chủ động điều phối và liên kết với các đối tác logistics nhằm bảo đảm nguồn container ổn định, đúng thời điểm, đặc biệt trong các giai đoạn cao điểm xuất nhập khẩu. Đồng thời, doanh nghiệp cần duy trì và củng cố độ tin cậy của dịch vụ bằng việc bảo đảm giao hàng đúng hạn, an toàn hàng hóa và nhất quán trong chất lượng phục vụ, qua đó xây dựng mối quan hệ hợp tác lâu dài với khách hàng doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp nên đầu tư xây dựng hình ảnh thương hiệu vận chuyển uy tín, gắn các hoạt động truyền thông với chất lượng dịch vụ thực tế và trải nghiệm khách hàng. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý đơn hàng, theo dõi hành trình và trao đổi dữ liệu với khách hàng nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu quả vận hành và khả năng kiểm soát dịch vụ, từ đó gia tăng lợi thế cạnh tranh trên thị trường vận chuyển.
Tài liệu tham khảo:
Nguyễn Thúy Nga. (2014). Các nhân tố tác động đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ vận tải container đường biển của các công ty xuất nhập khẩu và các công ty forwarder tại Thành phố Hồ Chí Minh (Luận văn thạc sĩ). Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Vũ Tiến Đạt, Lê Như Ngọc, Phạm Vũ Trúc Phương, Phạm Ngọc Bích Trâm, Mai Nhật Trường, & Đinh Văn Hưởng. (2024). Thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn thương hiệu vận chuyển bằng đường biển của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học trẻ lần thứ 6 năm 2024 (YSC2024-IUH) (pp. 42-52).
Đặng Thị Thùy Trang. (2018). Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển (Luận văn thạc sĩ). Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.
Adisak, S. (2022). The influence of customer expectations, customer satisfaction, customer loyalty, and brand loyalty on purchasing intention: A case study of K-pop fans in Thailand. African Journal of Business Management, 16(1), 1-9.
Ambolau, M. A. P. (2015). The influence of brand awareness and brand image on purchase decision (A study on Aqua consumers of the Faculty of Administrative Science, Brawijaya University, class of 2013). Jurnal Administrasi Bisnis, 19(2).
Banomyong, R., & Supatn, N. (2011). Selecting logistics providers in Thailand: A shippers’ perspective. European Journal of Marketing, 45(3).
Hermiyenti, S., & Wardi, Y. (2019). A literature review on the influence of promotion, price, and brand image on purchase decision. In Proceedings of the 2nd Padang International Conference on Education, Economics, Business and Accounting (PICEEBA-2 2018) (pp. 254-261). Atlantis Press.
Hu, H. H., Kandampully, J., & Juwaheer, T. D. (2009). Relationships and impacts of service quality, perceived value, customer satisfaction, and image: An empirical study. The Service Industries Journal, 29(2), 111-125.
Iqbal, B., & Siddiqui, D. A. (2017). Factors influencing selection of container shipping lines in Pakistan: A logistics perspective. Asian Business Review, 7(1), 35-44.
Wati, Z., Lubis, A. R., & Putra, T. R. I. (2020). The model of brand image as moderation and customer relationship management as mediation in impacting customer loyalty on Tiens products in Banda Aceh. International Journal of Scientific and Management Research, 3(6), 43-57.
Transportation Brands in Hai Phong
Abstract:
This study aims to assess the factors influencing the decision to select transportation brands among import export firms in Hai Phong. The study is based on 278 survey responses and employs quantitative analysis using SPSS 26. The results indicate that the decision is significantly influenced by transportation cost, responsiveness, container allocation, reliability, brand image, and information technology. Based on these findings, the study proposes several managerial implications to help transportation companies enhance their competitiveness and optimize logistics costs.
Keywords: Transportation brand; selection decision; import-export firms; Hai Phong.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 2 năm 2026]
