Cứu "hạt nhân" của nền kinh tế
Kết quả điều tra cơ sở kinh tế, hành chính và sự nghiệp do Tổng cục Thống kê vừa công bố cho thấy, cả nước chỉ còn 313.000 DN đang hoạt động. Trong khi đó, theo báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến cuối năm 2011, cả nước có khoảng 624.000 DN đăng ký. Như vậy, số DN còn hoạt động thực sự đã giảm tới một nửa so với số DN đăng ký trước đó một năm.
Tuy nhiên, theo Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) Lưu Quang Mạnh, con số đó chưa chính xác. Tính đến 31/12/2012, số DN dừng hoạt động trong năm là 54.261 đơn vị, nhưng điều đáng nói là chỉ trong vòng 2 năm, một nửa số DN (110.000 DN) đã ngừng hoạt động kể từ khi đổi mới. “Đây là một trong những giai đoạn đen tối nhất của DN Việt Nam”, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nhận định.
Trước tình cảnh này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh đặt câu hỏi: “Con số tăng, giảm DN thực tính đến hết năm 2012 là bao nhiêu và trong số DN phát triển mới, có bao nhiêu DN cùng một chủ?”. Theo TS.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, sự sống còn của DN giờ đây không còn là việc của riêng họ, mà còn liên quan tới sức sản xuất và khả năng tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2013. Nhiều chuyên gia khác lo lắng, liệu các DN kỳ cựu “chết” thì DN “con cháu” mới sinh ra có thể sống khoẻ?
Trước trăn trở này, Bộ trưởng Vinh đề nghị các vụ, cơ quan chức năng cần đánh giá xem các gói hỗ trợ DN năm qua có phát huy tác dụng hay không?
Lý giải câu hỏi, liệu có mâu thuẫn khi mục tiêu 2013 là tăng trưởng cao hơn, nhưng lạm phát lại thấp hơn, Bộ trưởng Vinh cho biết: Xét về logic thì việc này không bình thường, nhưng trong điều kiện Việt Nam hiện nay, lạm phát đang ở mức rất cao, cần phải tiếp tục giảm xuống để tạo môi trường thuận lợi cho DN phát triển. “Làm sao lạm phát giảm ở mức hợp lý, chứ cứ chao đảo thế này DN không chịu được. Ngoài ra, để khôi phục sản xuất, cứu DN - những “hạt nhân” của nền kinh tế thì phải có nhiều chính sách hợp lý, hỗ trợ thị trường”, ông Vinh đề nghị.
Phải đưa tín dụng tới DN, người dân
Với những diễn biến của năm 2012 thì dự báo, 2013 vẫn là năm khó khăn của nền kinh tế, đồng nghĩa với nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng khá nặng nề, nhất là những nút thắt liên quan đến lãi suất, xử lý nợ xấu, đến các mục tiêu lớn hơn là ổn định tỷ giá, kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, tái cơ cấu hệ thống ngân hàng.
Trước tình hình này, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo 5 nhóm giải pháp quan trọng để xử lý các vấn đề của ngành ngân hàng. Thứ nhất, Thủ tướng yêu cầu NHNN lấy mục tiêu chung của đất nước để phấn đấu; làm tốt chức năng của NHNN, thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn chính sách tiền tệ. Để xảy ra lạm phát, Thống đốc NHNN phải chịu trách nhiệm với Chính phủ, điều hành để kiểm soát lạm phát thấp hơn năm 2012 nhưng phải đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP cao hơn.
Nhóm giải pháp thứ hai, Thủ tướng yêu cầu ngành ngân hàng đưa tín dụng tới DN và người dân để phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, góp phần đẩy mạnh tăng trưởng, tạo việc làm và ổn định kinh tế vĩ mô; tăng dư nợ tín dụng đúng mục tiêu, hiệu quả để thúc đẩy nền kinh tế. Đây là lợi ích của các ngân hàng thương mại (NHTM), cũng là lợi ích của DN. Muốn vậy thì phải tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ DN trong việc chia sẻ, giảm lãi suất, cơ cấu lại nợ.
Thứ ba, Thủ tướng yêu cầu phải xử lý tốt nợ xấu gắn với tái cơ cấu ngân hàng. Ngân hàng là người cho vay, nay DN khó khăn thì ngân hàng là người xử lý chủ yếu, Nhà nước không có ngân sách để xử lý nợ xấu. Bên cạnh đó cần gắn xử lý nợ xấu với giải phóng hàng tồn kho.
Thứ tư, Thủ tướng yêu cầu NHNN và các NHTM tự cơ cấu lại để hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là các NHTM cổ phần, không để còn ngân hàng yếu kém, không để tình trạng một số cổ đông chi phối lập ngân hàng, lập công ty con, rút tiền ngân hàng, kê khống tài sản thế chấp, gây nợ xấu lớn. NHNN cần xem thể chế quy định thế nào để bảo đảm kiểm soát tình trạng này.
Thứ năm, phải quản lý thị trường vàng, tiến tới quản lý tốt thị trường ngoại tệ, không để tác động đến ổn định vĩ mô, đến tỷ giá, lãi suất, không để tình trạng sử dụng vàng như tiền, đồng thời phải bảo đảm quyền lợi chính đáng hợp pháp của người giữ vàng.
Có thể nói, mong muốn lớn nhất của DN là năm 2013 tiếp tục giảm lãi suất cho vay, bởi việc giảm 1% lãi suất vào cuối năm 2012 là chưa đủ. Về điều này, NHNN cho biết, trong năm 2013, có thể giảm lãi suất nhưng không nhiều, bởi nếu không đẩy mạnh quá trình tái cấu trúc hệ thống NHTM để xử lý nợ xấu thì sẽ làm chi phí vốn tăng lên. Mặt khác, mặt bằng lãi suất cao chủ yếu do những ngân hàng có năng lực tài chính và quản trị nội bộ kém đã đẩy lên để thu hút lượng tiền gửi vào mình. "Vì vậy, để lãi suất cho vay xuống thấp và điều kiện tiếp cận vốn tốt hơn thì cần xử lý vấn đề nội tại của ngân hàng, trong đó có xử lý các ngân hàng yếu kém", Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành nhấn mạnh.
Quản lý, xử lý rủi ro với nợ công
Thủ tướng Chính phủ cũng vừa ban hành Quy chế quản lý và xử lý rủi ro đối với nợ công, bao gồm: phát hiện, đánh giá mức độ rủi ro, xử lý rủi ro và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc quản lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công.
Mục tiêu quản lý rủi ro đối với nợ công là nhằm tối ưu hóa cơ cấu nợ công, đảm bảo nghĩa vụ trả nợ và nâng cao hiệu quả hoạt động công tác quản lý nợ công. Qua đó, đảm bảo không làm tăng nghĩa vụ nợ công đã được xử lý so với khoản nợ ban đầu, đồng thời giảm thiểu thiệt hại có thể xảy ra trong tình huống xấu nhất với chi phí phát sinh hợp lý.
Nguyên tắc xử lý rủi ro chỉ áp dụng cho các nguyên nhân khách quan. Các khoản nợ công bị rủi ro do nguyên nhân chủ quan thì tổ chức, cá nhân gây ra tổn thất phải chịu trách nhiệm xử lý và bồi thường theo quy định của pháp luật.
Các loại rủi ro được quy định bao gồm: rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động. Công cụ tài chính để xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công gồm: các giao dịch phái sinh, như quyền chọn và hoán đổi; các nghiệp vụ tái cơ cấu nợ, gia hạn nợ, khoanh nợ, xóa nợ, đảo nợ, hoán đổi nợ và mua lại nợ.