Dệt may chủ động nguồn nguyên liệu

Việc chủ động sản xuất một phần nguyên liệu cung ứng cho nhu cầu sản xuất và xuất khẩu đang là tham vọng của ngành Dệt May Việt Nam trong chiến lược vươn lên top đầu xuất khẩu trên thế giới.

Đa dạng, chủ động về nguồn

Ngành Dệt May Việt Nam sở hữu một năng lực cạnh tranh được đánh giá là khá tốt, đặc biệt thể hiện qua 2 cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á (năm 1997) và khủng hoảng kinh tế thế giới (2008 - 2009), Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia vẫn giữ được tăng trưởng dương trong xuất khẩu dệt may ngay cả khi các thị trường lớn có sự biến động.

Nhìn vào thị phần của 10 quốc gia xuất khẩu dệt may hàng đầu từ năm 2010 - 2013, dễ dàng nhận thấy chỉ có Việt Nam và Bangladesh là hai quốc gia có thị phần tăng trưởng đều đặn qua từng năm, cụ thể thị phần Việt Nam từ năm 2010 đến 2013 lần lượt là 2%, 2,2%, 2,4% và 2,6%. Trong khi các quốc gia cạnh tranh khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Bangladesh đều tăng giảm không ổn định.

Sở dĩ có sự ổn định là do trong 10 năm trở lại đây, ngành Dệt May Việt Nam đã luôn nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung cấp nguyên phụ liệu. Nếu như 10 năm trước, 75 - 80% nguyên phụ liệu phải nhập khẩu từ Trung Quốc, thì đến năm 2013, kim ngạch nhập khẩu từ nước này chỉ còn 37%. Thay vào đó, dệt may đã tích cực tiếp cận nhiều nguồn cung ứng khác từ Mỹ, EU, Ấn Độ...

Đi cùng với đó, ngành đã triển khai hàng loạt dự án sản xuất nguyên phụ liệu. Từ năm 2010, Vinatex đã triển khai dự án sản xuất xơ visco với công suất 120 tấn/năm, giúp ngành có thể chủ động 30% nhu cầu nguyên liệu. Năm 2012, Nhà máy sản xuất xơ sợi tổng hợp polyester Đình Vũ được đầu tư bởi Công ty Cổ phần Hóa dầu và Xơ sợi Dầu khí, đã mở ra thời kì phát triển mới của ngành công nghiệp dệt may, từ chỗ phải nhập khẩu 100% nguyên liệu đã đáp ứng được 40% nhu cầu.

Đặc biệt trong 2 năm gần đây, các dự án đầu tư nguyên liệu được tăng tốc với cấp số nhân. Năm 2013, riêng Vinatex đã triển khai 42 dự án với tổng mức đầu tư 6.360 tỉ đồng; trong đó có 12 dự án sợi, 9 dự án dệt, 17 dự án may và 4 dự án về hạ tầng, siêu thị, trường, chương trình cây bông. Trong đó có dự án Nhà máy Sợi Phú Hưng tại Huế với quy mô 21 vạn cọc sợi. Đây là dự án trọng điểm nhằm mục tiêu đến năm 2017. Năm 2014 Vinatex sẽ triển khai 57 dự án đầu tư với tổng mức đầu tư khoảng 9.722 tỷ đồng, bao gồm 15 dự án sợi, 8 dự án dệt, 24 dự án may, 2 dự án bông trang trại.

Nếu tính toàn ngành, năm nay đầu tư khoảng 12.000 tỉ đồng cho các dự án sản xuất nguyên phụ liệu. Mục tiêu cuối cùng của việc tăng tốc đầu tư là nhằm chủ động nguồn nguyên liệu, hình thành và nâng cao chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành, khép kín quy trình sản xuất từ sợi - dệt - nhuộm hoàn tất - may, chuyển dần từ hình thức gia công sang làm hàng FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) và ODM (tự thiết kế, sản xuất và bán sản phẩm).

Sẵn sàng cho TPP

TPP có ý nghĩa quan trọng với ngành dệt may, bởi trong 12 quốc gia tham gia TPP gồm cả Việt Nam, có tới 2 thị trường lớn của ngành dệt may là Mỹ và Nhật chiếm tới 55% kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam, và 4% vào các nước TPP còn lại. Như vậy, có tới 60% kim ngạch xuất khẩu của dệt may Việt Nam được xuất khẩu vào các nước trong khối TPP.

Theo tính toán, ngành Dệt May Việt Nam sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ, tăng gấp 3 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ, đạt mức 20 tỷ USD vào năm 2020. Để được hưởng mức thuế suất ưu đãi 0%, thay vì từ 17% đến 32% như hiện nay, Việt Nam phải nội địa hóa 60% nguồn nguyên liệu, hoặc mua từ các nước trong nhóm TPP.

Mở rộng vùng nguyên liệu bông cho dệt may Việt Nam.

Với những dự án sản xuất nguyên liệu nói trên, nhiều doanh nghiệp dệt may nước ta tự tin cho rằng, ngành đã sẵn sàng khi hiệp định TPP hoàn tất. Chỉ tính riêng Tập đoàn Dệt May, sau khi các dự án hoàn thành, năng lực nguyên, phụ liệu của Tập đoàn sẽ tăng thêm khoảng 7.000 tấn sợi, 1,1 triệu veston, 4.000 tấn vải dệt kim, trên 20 triệu mét vải dệt thoi.

Một phần nguyên liệu khác, các doanh nghiệp chuyển nhập khẩu từ Trung Quốc sang các nước TPP. Hiện Việt Nam còn 37% nguyên phụ liệu nhập khẩu từ Trung Quốc (nước ngoài TPP). Nếu so với những quốc gia xuất khẩu dệt may khác đang sử dụng nguyên phụ liệu của Trung Quốc tới 75%, thì đây là một nỗ lực lớn của ngành Dệt May trong việc đa dạng hóa nguồn cung.

Công ty Dệt May Thành Công tự tin rằng sản phẩm của mình sẽ được hưởng mức thuế 0% sau khi đàm phán TPP thành công. Hiện Thành Công sở hữu chuỗi sản xuất khép kín. Nguyên liệu duy nhất Công ty này phải nhập là bông để kéo sợi. Để đáp ứng được yêu cầu khắt khe của TPP, Thành Công đang nhập 50% bông từ Mỹ, số còn lại nhập từ một số quốc gia khác cũng thuộc TPP.

Mỗi đơn vị đang có cách riêng để tăng tỷ lệ nguyên liệu xuất xứ từ các nước TPP. Garmex Saigon là một trường hợp thành công khi chuyển từ gia công (khách hàng chỉ định nguồn nguyên liệu) sang may FOB (doanh nghiệp chủ động chọn nguồn nguyên liệu).

Trong khi đó, Công ty May Sài Gòn 2 và Công ty May Sài Gòn 3 đi đầu trong việc tìm nguồn cung dệt may từ các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam. May Sài Gòn 2 đang mua vải từ một số doanh nghiệp Nhật ở Vũng Tàu; May Sài Gòn 3 đã giảm tỉ lệ nhập khẩu nguyên liệu Trung Quốc xuống còn 20%.

Nhiều chuyên gia trong ngành lạc quan cho rằng, với sự đầu tư tăng tốc, nhất là với sự nhận thức của doanh nghiệp tăng lên, dệt may chắc chắn tận dụng được cơ hội khi hiệp định TPP có hiệu lực.

Nguyễn Văn