I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỢ ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI:
Chợ không chỉ là một tổ chức hoạt động kinh tế mà còn là một loại hình sinh hoạt văn hóa chứa đựng đầm đà bản sắc dân tộc, là bộ phận cấu thành trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội. Thông qua các chợ truyền thống, hàng hóa được đưa từ sản xuất đến tiêu dùng, góp phần mở rộng kích thích sản xuất hàng hóa phát triển, phục vụ sản xuất cũng như đời sống của các tầng lớp nhân dân.
Về lượng các mặt hàng nông thổ sản, thực phẩm tươi sống, chế biến, rau củ quả phục vụ đời sống dân sinh hàng ngày được luân chuyển qua chợ dân sinh chiếm trên 60%, thị trường nông thôn thì con số này lên đến 70%. Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của chợ dân sinh đối với việc thông thương trao đổi mua bán hàng hóa của người dân. Chợ là nơi để bà con nông dân mang sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, các sản phẩm làng nghề đến để trao đổi, mua bán và quảng bá sản phẩm.
Hoạt động của chợ đã đóng góp cho ngân sách Nhà nước hàng năm khá lớn (thông qua thuế thu nhập DN, HTX quản lý chợ, thuế của các hộ kinh doanh, các loại phí, lệ phí). Các loại dịch vụ phục vụ hoạt động của chợ cũng tăng nhanh, giải quyết vấn đề lao động, việc làm cho xã hội. Quản lý tốt chợ góp phần giảm bớt ách tắc giao thông, nâng cao trật tự cảnh quan đô thị, đảm bảo vệ sinh môi trường và vệ sinh thực phẩm.
II. THỰC TRẠNG MẠNG LƯỚI CHỢ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI:
1. Hiện trạng mạng lưới chợ trên địa bàn Thành phố Hà Nội:
1.1. Về số lượng, quy mô và phân bố của mạng lưới chợ:
Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội có 411 chợ, trong đó số chợ đã phân hạng là 380 chợ, bao gồm 03 chợ đầu mối, 12 chợ hạng 1, 69 chợ hạng 2, có 299 chợ hạng 3. Bình quân mỗi quận, huyện, thị xã có 14 chợ, mỗi chợ phục vụ khoảng 15.165 người.
- Tỷ lệ các chợ theo hạng như sau: 12 chợ hạng 1 chiếm 2,9%; 69 chợ hạng 2 chiếm 16,8% và 299 chợ hạng 3, chiếm 72,7%; 31 chợ chưa phân hạng.
- Phân bố mạng lưới chợ ở 10 quận có 103 chợ (25,06%), ở thị xã có 11 chợ (2,68%), các huyện có 297 chợ (72,26%). Bình quân 1 quận nội thành có 10,3 chợ và 1 huyện ngoại thành có khoảng 16,5 chợ.
Tổng diện tích đất chợ khoảng 1.560.536,2 m2. Diện tích đất chợ bình quân đầu người là 0,25m2/người, chỉ bằng 50% so với chỉ tiêu này của cả nước.
Nhìn chung, số lượng chợ hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu kinh doanh của các hộ kinh doanh và nhu cầu mua sắm hàng hoá của dân cư, nhất là các hàng hoá thuộc nhu cầu tiêu dùng hàng ngày.
1.2. Về mô hình tổ chức quản lý chợ:
Các chợ đã được phân hạng, đều có Ban quản lý chợ trực thuộc UBND quận, huyện hoặc UBND xã, phường, hoặc là tổ quản lý chợ thuộc doanh nghiệp, HTX kinh doanh chợ:
- Chợ do quận, huyện quản lý có 88 chợ, chiếm khoảng 21%.
- Chợ do xã, phường, thị trấn quản lý có 236 chợ, chiếm khoảng 58%.
- Chợ do doanh nghiệp, HTX quản lý có 87 chợ, chiếm khoảng 21%.
1.3. Về cơ sở hạ tầng:
Trong số 411 chợ trên địa bàn Thành phố thì có khoảng 67 chợ kiên cố, chiếm 16,3%; 213 chợ bán kiên cố, chiếm 51,7%; 131 chợ lán tạm, chiếm 32%.
Tại các quận nội thành và ở các huyện Thanh Trì, Từ Liêm... phần lớn chợ đều được xây kiên cố hoặc bán kiên cố. Số chợ có lều lán tạm tại một số huyện chiếm tỷ lệ khá cao như huyện Sóc Sơn (chiếm 70%), huyện Ba Vì (chiếm 65%), huyện Chương Mỹ (chiếm 71%).
Có khoảng 80% chợ hạng 3 tại các xã khu vực nông thôn đã xuống cấp nghiêm trọng. Một số chợ tại các xã chỉ là những lều lán tạm hoặc tổ chức mua bán tại những bãi đất trống.
1.4. Về lao động quản lý và kinh doanh trên chợ:
Trên địa bàn Thành phố có khoảng 1.800 cán bộ, công nhân viên tham gia quản lý chợ, trong đó có 350 người trong biên chế và 1.445 lao động hợp đồng. Có khoảng 74.974 hộ kinh doanh thường xuyên, có đăng ký kinh doanh, trong đó 10 quận nội thành là 24.407 hộ và các huyện ngoại thành là 50.567 hộ.
1.5. Về đầu tư xây dựng chợ:
Việc đầu tư xây dựng chợ truyền thống là hết sức quan trọng. Tuy nhiên, theo Nghị định 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003, Nghị định 114/2009/NĐ-CP ngày 27/12/2009 của Chính phủ, nguồn vốn đầu tư xây dựng chợ chủ yếu tập trung cho các chợ khu vực nông thôn. Việc xã hội hóa đầu tư xây dựng và quản lý, kinh doanh, khai thác chợ, đặc biệt là các chợ khu vực nội thành gặp khó khăn do quy mô vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn lâu.
2. Đánh giá tồn tại và nguyên nhân trong phát triển mạng lưới chợ:
Một số nguyên nhân, tồn tại cần khắc phục trong công tác phát triển và quản lý chợ, như:
- Mạng lưới chợ ở khu vực nông thôn hầu như vẫn chưa đủ mạnh, có nơi phát triển tự phát, phân bố chưa hợp lý. Nhiều khu vực đông dân cư, hiện tượng mua bán lấn chiếm vỉa hè, lòng, lề đường gây cản trở lưu thông nghiêm trọng.
- Phân bố mạng lưới chợ trên địa bàn Thành phố hiện nay chưa hợp lý cả về khoảng cách, bán kính và quy mô dân số phục vụ.
- Loại hình chợ còn đơn điệu, hầu hết là chợ kinh doanh tổng hợp. Ngành hàng kinh doanh tại chợ chủ yếu tập trung vào mặt hàng tươi sống, tạp hoá, may mặc, dịch vụ ăn uống... Chưa hình thành được chợ đầu mối nông sản nên chưa phát huy được chức năng của loại hình chợ này đối với sản xuất nông nghiệp.
- Cơ sở vật chất của chợ còn yếu kém, xuống cấp, chưa đảm bảo an toàn, vệ sinh và văn minh trên chợ. Một số chợ lớn đã có giải pháp đầu tư theo hướng nhà nước và nhân dân cùng tham gia, nhưng chỉ phù hợp tại các khu vực buôn bán phát triển còn tại các khu vực nông thôn thì khó có thể áp dụng.
- Việc xây dựng chợ chưa theo tiêu chuẩn thiết kế nên bố trí không gian kiến trúc, yêu cầu về diện tích mặt bằng của hệ thống chợ cũng chưa hợp lý và chưa thể hiện được nét văn hoá, truyền thống của từng khu vực.
- Một số chợ phát triển tự phát, chưa đúng quy hoạch, chợ họp ngay ven đường giao thông, không đảm bảo vệ sinh thực phẩm và không văn minh thương mại, gây mất trật tự an ninh, ách tắc giao thông...
- Vốn đầu tư để nâng cấp chợ và xây dựng chợ mới, di dời chợ gặp rất nhiều khó khăn;
- Công tác quản lý và phát triển chợ những năm qua còn hạn chế, tiến độ triển khai quy hoạch còn chậm và chưa đồng bộ, hiệu quả thấp. Đội ngũ cán bộ quản lý chợ bao gồm cán bộ thuộc cơ quan quản lý nhà nước và các cán bộ quản lý trực tiếp tại chợ còn yếu về năng lực chuyên môn.
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHỢ TRUYỀN THỐNG Ở HÀ NỘI ĐẾN NĂM 2015, TẦM NHÌN 2020:
1. Nguyên tắc phát triển:
- Quy hoạch mạng lưới là một bộ phận của quy hoạch phát triển mạng lưới thương mại Thành phố. Quy hoạch mạng lưới chợ cần có sự phối kết hợp chặt chẽ với quy hoạch mạng lưới trung tâm thương mại, siêu thị và quy hoạch xây dựng của Thành phố.
- Tăng cường quản lý Nhà nước đối với hoạt động đầu tư phát triển hệ thống chợ trên phạm vi địa bàn Thành phố, đảm bảo sự phát triển hài hoà giữa chợ và các loại hình thương mại khác, phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế và sự gia tăng hoạt động thương mại.
- Tích cực đẩy nhanh quá trình xã hội hoá hoạt động đầu tư để vừa đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội, vừa nâng cao hiệu quả tài chính trong đầu tư phát triển hệ thống chợ.
- Nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển chợ trên cơ sở khai thác năng lực phục vụ của hệ thống chợ.
- Xác định số lượng và quy mô chợ căn cứ theo TCXDVN 351: 2006 - “Chợ - Tiêu chuẩn thiết kế” quy định các yêu cầu kỹ thuật thiết kế chợ trong các đô thị, được Bộ Xây dựng ban hành theo Quyết định số 13/2006/QĐ-BXD ngày 19 tháng 04 năm 2006.
2. Định hướng phát triển:
2.1. Định hướng phát triển mạng lưới:
a. Chợ thành thị:
+ Không xây mới các chợ ở khu vực nội thành và sớm cải tạo các chợ truyền thống thành các công trình đa năng.
+ Lựa chọn để nâng cấp, cải tạo một số chợ quy mô lớn (Có diện tích đất chợ lớn hơn 10.000 m2) hiện có thành một số chợ trung tâm của quận, thành phố với quy mô chợ hạng 1, khang trang và hiện đại, phù hợp với quần thể kiến trúc xung quanh, cùng với các siêu thị, trung tâm thương mại, đường phố thương mại quanh khu vực chợ để hình thành nên các khu thương mại trung tâm của quận, thành phố.
+ Nâng cấp và cải tạo để hình thành các chợ bán lẻ nông sản, thực phẩm tươi sống hạng 2 (có diện tích đất chợ 5.000 - 10.000 m2) ở các phường, liên phường phục vụ nhu cầu hàng ngày của dân cư.
+ Từng bước chuyển hoá các chợ dân sinh loại nhỏ (có diện tích đất chợ nhỏ hơn 2.000 m2) thành các siêu thị hạng 3, cửa hàng thực phẩm, cửa hàng tiện lợi.
+ Kết hợp với việc di dời các chợ bán buôn nông sản trong nội thành ra ngoại thành để xây mới các chợ bán buôn nông sản quy mô lớn.
+ Vốn để thực hiện quá trình này chủ yếu là vốn đầu tư của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (kể cả hợp tác, liên doanh đầu tư với nước ngoài) và vốn của cá nhân và hộ kinh doanh (kinh doanh trong chợ hoặc kinh doanh các loại hình, như siêu thị, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng thực phẩm do chuyển hoá từ chợ mà thành).
b. Chợ nông thôn:
- Tập trung vào việc cải tạo, di dời, xây mới để đảm bảo có đủ chợ dân sinh quy mô hạng 3 ở các xã, đáp ứng nhu cầu mua bán hàng hoá hàng ngày của nhân dân;
- Cải tạo, nâng cấp hoặc xây mới các chợ thị trấn, thị tứ thành các chợ lớn hơn, có quy mô chợ hạng 1, 2 để trở thành chợ trung tâm của Huyện, hoặc của một tiểu vùng gồm nhiều xã trong Huyện, làm hạt nhân của mạng lưới chợ dân sinh ở các xã; Lấy chợ làm hạt nhân, tổ chức quanh khu vực ảnh hưởng của chợ các loại hình thương mại, dịch vụ khác để hình thành các Khu thương mại - dịch vụ tổng hợp ở các địa bàn;
- Vốn đầu tư để hoàn thiện mạng lưới chợ nông thôn được huy động từ các nguồn hỗ trợ của Ngân sách nhà nước, lồng ghép với các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, của doanh nghiệp, hợp tác xã và các hộ kinh doanh trong chợ góp vốn trước rồi thuê lại quầy, sạp, cửa hàng trong chợ;
- Khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp thương mại, các tổng đại lý ở khu vực thành thị phát triển mạng lưới cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh, đại lý mua, bán hàng hoá... đến các chợ.
c. Chợ không cố định, hoặc không thường xuyên:
Các chợ hoạt động không cố định, không thường xuyên như chợ đồ cũ, chợ hoa - cây cảnh - sinh vật cảnh, chợ văn hóa - du lịch, chợ tết âm lịch, chợ tết trung thu, chợ họp ban đêm, chợ họp theo giờ, chợ cuối tuần... cần được bố trí không gian phù hợp và đảm bảo phối hợp thống nhất để quản lý tốt hoạt động của những chợ này.
d. Chợ đầu mối bán buôn nông sản:
Hình thành và phát triển 05 chợ đầu mối bán buôn nông sản - thực phẩm tổng hợp cấp vùng quy mô diện tích 30 ha ở 05 khu vực: Gia Lâm – Long Biên, Quốc Oai, Mê Linh, Phú Xuyên, Sơn Tây để thu hút các nguồn nông sản ở các vùng nông nghiệp lúa, rau, hoa, quả sản lượng cao của Thành phố, thu hút các nguồn nông sản, thực phẩm của vùng, miền trên cả nước.
2.2. Định hướng đổi mới phương thức quản lý:
Chú trọng đến công tác quản lý chợ không chỉ trên giác độ hiệu quả kinh tế từ các nguồn thu trên chợ mà quan trọng hơn là phải chú trọng đến những ảnh hưởng của mạng lưới chợ đối với mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở mỗi khu vực cụ thể, qua đó nhằm hoàn thiện và hướng các hoạt động quản lý chợ phù hợp với xu thế đổi mới cơ chế quản lý ở nước ta hiện nay. Vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển chợ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
Trên đây là bài tham luận của Sở Công Thương Hà Nội về một số nội dung phát triển chợ truyền thống Thủ đô. Chúc cuộc Tọa đàm thành công tốt đẹp./.
“Định hướng phát triển chợ truyền thống ở Hà Nội”
TCCT
