Số phận không nuông
chiều
Hôm tôi đến Na Dương, trời mưa tầm
tã. Lòng moong của mỏ than vùng xa này không kém gì các mỏ than lớn vùng Đông Bắc. Tuy nhiên, với
Na Dương, số phận dường như không được nuông chiều. Chị Dương Thị Thúy Nga, Phó Giám đốc Công ty
dẫn chúng tôi đi thực địa khai trường. Chị Nga là người phụ nữ rắn rỏi. Chị đã có cả tuổi thơ, tuổi
xuân trên vùng đất này. Chị cho biết, mỏ than Na Dương rất quý người, đặc biệt lúc trời mưa. "Người
đi, đế giày sẽ ở lại", vì đất sét ở mỏ gặp mưa là kết dính và trương nở, hút tất cả những gì dính
vào nó. Mưa nhỏ thôi cũng đủ để các công nhân phải nghỉ việc và tính ra thời gian nghỉ vì mưa đã
hết gần một quý trong năm. Đó là một trong những khó khăn trong khai thác của mỏ mà Than Na Dương
thường xuyên gặp phải. Tôi hiểu, ngoài phải bơm nước moong, người Na Dương còn chịu ảnh hưởng khắc
nghiệt của thời tiết. Ai cũng biết cái gió của Na Dương như thế nào rồi. Người ta từng nói: "Ruồi
vàng, bọ chó, gió Na Dương" để so sánh những cái gió khó chịu của Na Dương, nếu không nói là độc
hại.
Than Na Dương còn có nhiều nét đặc
biệt. Tầng chứa than trên chạy dài từ phía Đông - Đông Bắc đến phía Tây Nam. Than Na Dương là loại
than đặc chủng, ít có ở Việt Nam, là loại than nâu chuyển tiếp than ngọn lửa dài. Việc khai thác đã
khó, nhưng việc sàng tuyển và lưu kho còn khó hơn rất nhiều. Trước đây, than được khai thác lên
chưa dùng đến chỉ cần để lại có thể trong đêm đã bốc cháy mà đã cháy tự nhiên thì lưu huỳnh chưa
được khử, nên bay ra mùi rất khó chịu. Thêm vào đó, khi gặp nước sẽ chuyển hoá thành axit
sunfuaríc, loại axít này nếu thải ra môi trường sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường
xung quanh. Nhưng đó chỉ là chuyện trước đây, còn bây giờ, việc xử lý các sự cố than cháy hay nước
thải ra sông Kỳ Cùng ở Na Dương đã được đảm bảo an toàn.
Bên cạnh đó, việc tiêu thụ than Na
Dương cũng gặp rất nhiều trở ngại. Bởi đặc thù là loại than ngọn lửa dài, nên chỉ dùng được trong
công nghệ xi măng lò quay phương pháp ướt và cho các nhà máy nhiệt điện với công nghệ lò tầng sôi
tuần hoàn. Từ thập kỷ tám mươi, nước ta thực hiện nhiều công trình trọng điểm, theo đó, hàng loạt
nhà máy xi măng được đầu tư xây dựng, trong đó có Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn công suất 1,2 triệu
tấn/năm, công nghệ ướt của Liên Xô. Do vậy, than Na Dương là nguyên liệu mang lại hiệu quả nhất.
CBCNV của Mỏ cũng được tăng cường lên đến trên 2 nghìn người, hầu hết là lao động địa phương. Thời
kỳ này được coi là thời hoàng kim nhất của Mỏ Than Na Dương. Rồi sau này, xi măng mang thương hiệu
của Vinacomin do chính những người thợ Việt Bắc làm ra, mỗi năm chừng 3 triệu tấn.
Tuy nhiên, những năm gần đây, các
nhà máy xi măng đã chuyển sang sản xuất theo phương pháp khô, đồng nghĩa với việc dừng tiêu thụ
than Na Dương. Đây chính là một trong vấn đề nan giải nhất của Mỏ than Na Dương, làm thế nào để giữ
sản xuất ổn định và còn bao nhiêu hệ lụy khác đến con người... Đó luôn là những câu hỏi được đặt
trên bàn của những nhà lãnh đạo không chỉ đối với Than Na Dương, Công nghiệp mỏ Việt Bắc, mà còn cả
Tập đoàn và các Bộ, ban ngành, các nhà khoa học.
Vươn lên từ một hướng
đi
Năm 2005, Nhà máy Nhiệt điện Na
Dương đi vào vận hành như một vị cứu tinh cho than Na Dương trong những năm đầu thế kỷ XXI này.
Tính ra mỗi năm, Mỏ than Na Dương cung cấp cho Nhà máy Nhiệt điện Na Dương trên 500.000 tấn than
sạch. Con số ấy, đủ cho hàng ngàn lao động yên tâm với nghề của mình.
Trước những biến động của nền kinh
tế, những khó khăn thách thức, các thế hệ cán bộ CNVC của Mỏ luôn ý thức quyết tâm xây dựng một
vùng mỏ mang diện mạo mới. Hôm nay, vùng mỏ Na Dương đã khoác trên mình tấm áo mới, với khu điều
hành khang trang, trên công trường được trang bị những thiết bị hiện đại, nhà xưởng quy củ
hơn…
"Vùng khai thác nằm trong lòng
chảo, nhưng là đỉnh gió, gió mùa đông bắc thổi bạt người. Trước đây khai trường nhỏ hẹp, manh mún
như chiếc áo vá vụng, nay đã quy củ hơn nhiều. Việc cơ giới hóa cũng đã giúp người lao động đỡ vất
vả hơn. Khó khăn nhất của cánh lái xe vận tải là đi làm ca ba vào mùa mưa trơn trượt. Trước lái xe
Ben la của Liên xô cũ, ngồi trên ca bin nóng đổ mồ hôi, hệ thống lái nặng, rất nhanh mệt và tốn
sức. Nay Công ty trang bị ô tô HD của Nhật, cabin có máy điều hòa, hệ thống lái trợ lực, hệ thống
phanh an toàn. Anh em cũng đỡ vất vả hơn nhiều và năng suất lao động cũng cao hơn" - Chị Nga
nói.
Để sản xuất phát triển, Công ty coi
trọng việc bồi dưỡng và đào tạo nhân lực. Với quan điểm, đội ngũ lao động là "tài sản", là "nguồn
vốn cố định" lớn nhất và quý nhất, Công ty luôn tạo mọi điều kiện để người lao động học tập không
ngừng nâng cao trình độ chuyên môn tay nghề. Bởi vậy, hiện nay, ở Than Na Dương, người quản lý đã
có tầm nhìn xa, đội ngũ công nhân dần trở thành những "trí thức công nhân". Các bộ phận hoạt động
đều tay và có hiệu quả cao. Hơn thế nữa, Công ty đã mạnh dạn đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị, áp
dụng các tiến bộ KHKT vào sản xuất, vừa đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả, vừa bảo vệ, hỗ trợ
được đội ngũ lao động và bảo vệ môi trường.
Để người lao động yên tâm, gắn bó
với Công ty, Công đoàn cùng Ban giám đốc rất chú trọng việc cải thiện điều kiện ăn ở, làm việc;
tăng cường các thiết bị bảo hộ lao động, vệ sinh môi trường làm việc cho CBCN, tổ chức khám sức
khỏe định kỳ, kịp thời phát hiện và chữa trị bệnh nghề nghiệp cho công nhân. Bằng quỹ phúc lợi,
Công đoàn Công ty còn thường xuyên tổ chức cho NLĐ được đi nghỉ mát, nghỉ dưỡng phục hồi sức khỏe,
tổ chức hoạt động văn nghệ thể thao... tạo ra sân chơi lành mạnh cho CBCN.
Đổi thay từ một hướng đi
TCCT
Tổ hợp Than - Điện Na Dương thuộc Tổng Công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc - Vinacomin nằm trên địa bàn vùng biên thuộc huyện Lộc Bình, Lạng Sơn. Cảm nhận của tôi, đây là một vùng đất góc cạnh và đầy gian
