Giải pháp thúc đẩy sản xuất, kinh doanh ngành công thương

Năm 2012 với không ít khó khăn và thách thức đối với ngành công thương. Ngoài những tác động do sự suy giảm của kinh tế thế giới, những khó khăn nội tại cũng làm cho sản xuất, kinh doanh của ngành suy

Ðể chủ động đối phó với những diễn biến bất lợi của tình hình, ngành công thương đã đề ra nhiều giải pháp nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh trong năm 2013.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, nhất là việc tập trung triển khai thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, năm 2012, ngành công thương đã có những nỗ lực trong việc chỉ đạo các doanh nghiệp trong ngành đẩy mạnh sản xuất - lưu thông - tăng cường xuất khẩu. Với những cố gắng đó, sản xuất công nghiệp năm 2012 tăng 4,8% so với năm 2011, trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 3,5%. Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,5%, sản xuất, phân phối điện , khí đốt tăng 12,3%, cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 8,4%...

Năm 2012, mặc dù kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưng với những chính sách khuyến khích tiêu dùng của Chính phủ, việc tích cực triển khai Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam" và các hoạt động khuyến mại, đưa hàng về nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo... nên tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ xã hội tăng khoảng 18% so với năm 2011; cân đối cung cầu một số mặt hàng trọng yếu năm 2012 tiếp tục được bảo đảm. Kim ngạch xuất khẩu năm 2012 ước đạt khoảng 114,5 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm 2011 và vượt mức kế hoạch đề ra. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 115 tỷ đồng, tăng 7,7% so cùng kỳ năm trước.

Tuy vậy, năm 2012, chỉ số tồn kho của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng đến 20% so năm trước, trong đó: sản xuất xe có động cơ tăng 76,6%, dây cáp điện tăng 56,8%, phân bón và hợp chất ni-tơ tăng 40,8%, chế biến và bảo quản thủy sản tăng 28,6%.

Năm 2013, dự báo tình hình kinh tế thế giới còn tiếp tục diễn biến phức tạp, phục hồi chậm và chứa đựng nhiều rủi ro, việc mở rộng xuất khẩu ở các thị trường lớn gặp nhiều khó khăn. Xu hướng bảo hộ của các nước ngày càng tăng. Trong nước, kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô chưa thật sự ổn định; áp lực tăng lạm phát vẫn còn khá lớn; việc thực hiện các chính sách nhằm ổn định kinh tế vĩ mô sẽ gây những khó khăn đối với tăng trưởng kinh tế. Thị trường tiêu thụ gặp khó khăn do sức mua chưa được phục hồi mạnh; hoạt động của hệ thống tài chính còn nhiều rủi ro; lạm phát có nguy cơ tăng lên; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, sức cạnh tranh của cả nền kinh tế và của các DN tuy có được cải thiện nhưng còn ở mức thấp. Hệ thống thương mại trong nước chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển sản xuất và kinh doanh trong tình hình mới. Ðây là những yếu tố ảnh hưởng bất lợi đến việc phấn đấu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững trong năm 2013.

Trên cơ sở đánh giá khó khăn và thuận lợi trong năm 2013, ngành công thương đặt ra những mục tiêu phát triển cơ bản là: nâng cao chất lượng tăng trưởng gắn với tái cơ cấu nền kinh tế đi đôi với việc tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm nền kinh tế phát triển bền vững, tạo đà cho việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015. Ðể thực hiện mục tiêu nêu trên, ngành công thương đề ra một số giải pháp cụ thể:

Một là, các DN khai thác tốt năng lực sản xuất và nhu cầu thị trường trong nước, củng cố hệ thống phân phối để sản phẩm đến tay người tiêu dùng với mức giá thấp, nhằm giảm tồn kho và thúc đẩy sản xuất; tiếp tục triển khai thực hiện tốt Thỏa thuận ưu tiên sử dụng sản phẩm của nhau giữa các doanh nghiệp thuộc bộ; tiếp tục đẩy mạnh cải tiến công nghệ, sử dụng nguyên liệu, vật tư, máy móc, thiết bị trong nước đã sản xuất được để giảm chi phí, đặc biệt là sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng, tài nguyên nhằm tăng hiệu quả đầu tư và hiệu quả sản xuất, kinh doanh, góp phần giảm nhập siêu.

Hai là, phát triển các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, ưu tiên phát triển những sản phẩm có chất lượng, giá trị gia tăng cao, áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường. Tập trung phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng tái tạo, công nghiệp điện tử, công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường.

Ba là, cân đối cung cầu những mặt hàng trọng yếu đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và tiêu dùng của nhân dân trong mọi tình huống. Ðẩy mạnh phát triển thị trường trong nước, chú trọng phát triển thị trường nông thôn, miền núi, và các vùng biên giới, hải đảo. Phát triển hệ thống kênh phân phối hàng Việt, nhất là ở thị trường nông thôn. Tiếp tục thực hiện Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam".

Bốn là, tập trung giám sát chặt chẽ và đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư đang thực hiện, nhất là các dự án trọng điểm chậm tiến độ. Tập trung sắp xếp lại sản xuất, chuyển dịch cơ cấu theo hướng có lợi thế, hiệu quả, hướng ra xuất khẩu.

Năm là, phát triển mạnh các lĩnh vực dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng và lợi thế lớn, có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, mang lại giá trị gia tăng cao. Phát triển các dịch vụ như du lịch, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh khác. Ðẩy mạnh tham gia mạng phân phối toàn cầu; xây dựng thương hiệu hàng hóa và một số lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu DN nhà nước, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước. Sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan để xác định rõ cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước; có chế tài đủ mạnh, rõ ràng, minh bạch để quản lý, giám sát có hiệu quả việc sử dụng vốn và tài sản tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Bảo đảm khu vực DN nhà nước thực hiện tốt vai trò của mình trong nền kinh tế, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội tương xứng với nguồn lực hiện có.