Hẻm phố Sài Gòn

Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, những gì tôi biết về Thành phố Hồ Chí Minh - Sài Gòn là gu ăn mặc của một chị cùng ngõ, theo chồng vào làm ăn sinh sống ở trong đó ra thăm nhà. Ấn tượng còn lưu lại là chị

Thế rồi lần đầu tiên cách đây hơn 10 năm, tôi đến TP. Hồ Chí Minh theo lệnh công tác biệt phái. Tình cờ, hoặc may mắn là nơi ở của tôi trong thời gian công tác nằm trên một đường nhỏ gần kênh Nhiêu Lộc thuộc phường cuối cùng của quận 3, chạy lên trung tâm thành phố khá gần. Và đặc biệt, chính từ chỗ này, riêng tôi lại thấy Sài Gòn rất giống với Hà Nội. Ít nhất là Hà Nội trong hình dung của nhiều người qua văn chương. Đó là những sinh hoạt bình yên của những con hẻm (ở Hà Nội gọi là ngõ) trước hoặc sau giờ mưu sinh. Với đặc trưng thời tiết dễ đoán của phương Nam, dù mùa nắng hay mùa mưa, vẫn có một vài tiếng nhâm nhi cà phê, tận hưởng sự mát mẻ của buổi sáng khi ánh nắng còn chưa gắt. Như đầu hẻm gần nơi tôi ở, ăn sáng tại gánh bún vợ chồng má Năm xong, mọi người chào đón tôi gia nhập không gian sinh hoạt chung nồng hậu nhưng bình thản: “Chú mới đến hả, Hà Nội vô hả. Rồi, tự nhiên đi....”. Hết phần làm quen, không săm soi gì thêm, ai lại có việc của người ấy như thường lệ. Ông bác sĩ chủ phòng mạch ngồi đọc báo cạnh chú lái xe chở hàng 3 bánh, cô làm móng tay ngồi tán gẫu với cô sinh viên, cậu Phương người béo đen lúc nào cũng đầy vết giác hơi ở lưng sáng nào cũng eo éo chòng ghẹo nạn nhân nào đó mới chịu yên... Rồi sau đó tất cả chợt vãn đi, khi mọi người đổ ra những nẻo đường lớn, quăng mình vào sự hối hả bất tận. Từ cảm giác dễ chịu ban đầu này, khi có dịp tôi thường lọ mọ đi thám thính thêm nhiều hẻm trong thành phố.

Ở các quận trung tâm, hẻm ra đời cùng với các tuyến đường từ hàng trăm năm, đến lúc ấy vẫn mang khá nhiều nét cổ kính. Có cả những ngôi biệt thự cũ mang dáng vẻ trầm lặng với kiến trúc còn nguyên sơ với cổng sắt, giàn hoa và hộp thư báo trước cửa. Nhiều hẻm yên tĩnh rợp mát cây xanh với những quán cà phê, quán ăn nhỏ với vài bộ bàn ghế nhựa đơn sơ, bình lặng đến mức khách có thể ngồi cả buổi.

Sang đến các quận khác, hẻm nhiều sắc thái hơn, dân trong hẻm có người Sài Gòn gốc nhưng đa phần từ tứ xứ tụ về. Nhà cửa chen nhau đủ kiểu, đủ loại, nhưng bất ngờ vẫn thấy những ngôi nhà với diện tích sân vườn tới hàng trăm, thậm chí hàng ngàn mét vuông. Đã tứ xứ tụ về ắt đủ hỉ nộ ái ố. Nhiều khi chứng kiến những cảnh dở khóc dở cười. Ví như đôi đồng tính ở nhà thuê, hàng ngày “nàng” đẩy xe đi bán bánh mì nuôi “chàng”, yêu nhau thắm thiết. Hiềm nỗi, lâu lâu “nàng” lại ngồi xổm đầu hẻm khóc bù lu bù loa vì “chàng” nổi cơn cờ bạc, lột đến đồng cuối cùng tiền dành dụm của “nàng”. Có người bực lây, xúi “cái giống bạc vậy ở chung làm chi, bỏ đi cho rồi”. “Nàng” phân trần: “Thôi ráng sống sao cho người ta biết nghĩ thì mình được nhờ chớ bỏ tội nghiệp. Lỡ thương người ta rồi, biết sao giờ...”. Có gia đình sống quanh năm theo kiểu sáng chồng đi cà phê, chiều nhậu vì người thân ở nước ngoài gửi tiền về bao hoặc có đất xây nhà cho thuê. Trưa đến, bà vợ nằm võng nghe cải lương. Hàng xóm được nghe đủ các kiểu “Tình anh bán chiếu”, “Gánh nước đêm trăng”, “Cau Hà Châu têm trầu Xuân Mỹ”, “Chuyện tình Lan và Điệp”... Hoặc không hiếm hẻm có chùa, kiến trúc không khác nhà dân, nghĩa là bê tông cốt thép, cửa sắt kéo, tên chùa viết bình dị bằng chữ Việt. Các sư sống đạm bạc, khói nhang kinh kệ chăm chỉ, ngày ngày mở lớp dạy trẻ nghèo miễn phí.

Tôi chưa có dịp tiếp cận bên trong các hẻm của người Hoa ở khu vực quận 5. Nhưng quan sát bên ngoài qua vài lần mang xe máy của mình ra thuê thợ ở đây “độ” lại, thấy hẻm hẹp bề ngang, sâu hun hút, chật và tối. Đầu hẻm thường có biển tên bằng chữ Hán, ngay cửa ra vào nhà nào cũng dán mảnh giấy đỏ cũng có chữ Hán, thấy giống y chang các con ngõ phố ở Hàng Buồm ngoài Hà Nội ngày trước. Đọc tài liệu được biết dân cư trong các hẻm ở quận 5 phần lớn có họ hàng với nhau do cùng nguồn gốc từ một bang, tỉnh Trung Hoa di cư sang từ thuở xa xưa. Nghề thủ công của các tay thợ người Hoa quả thật đáng nể. Chiếc xe của tôi được “độ” cẩn thận, đáng nói hơn không phải đến khi tôi ưng ý, mà chính người thợ cảm thấy ưng ý. Nhưng giá cả vẫn rất phải chăng.

Những năm sau này quay trở lại, thành phố Hồ Chí Minh - Sài Gòn với sự năng động đặc trưng đã thay đổi rất nhiều, những góc nhỏ yên tĩnh mà tôi ví giống như Hà Nội xưa cũng hiếm gặp hơn. Đã vắng dần những tiếng rao hủ tiếu, bánh mì văng vẳng giữa khuya khoắt. Điều đó nghĩ cho cùng cũng hợp lẽ phát triển. Nhưng ở một đầu hẻm bất kỳ, trong cái mát lạnh buổi đêm của mùa mưa Sài Gòn, chợt thấy như ánh sáng đèn đường cũng gợi thương nhớ:

"Có thể bây giờ phố không còn trẻ đâu,

Tiếng rao đêm đã khàn hơn một chút,

Trong mưa khuya nhớ thương lời rao sáng,

Giữa nắng ngày thương nhớ tiếng rao đêm"

(Sài Gòn trong khúc nhớ quên - Trần Kiều Bạc)