Cùng tham dự Hội nghị có các đồng chí lãnh đạo Bộ Công Thương, lãnh đạo thành phố Hải Phòng, đại diện các Cục, Vụ, Viện và các đơn vị liên quan thuộc Bộ Công Thương, Sở Công Thương Hải Phòng, các Sở, ngành liên quan, cùng đông đảo Sở Công Thương các tỉnh, thành phố phía Bắc.
Hội nghị nhằm đánh giá kết quả năm 2025 và 9 tháng đầu năm 2026; trao đổi kinh nghiệm, nhận diện khó khăn và thống nhất nhiệm vụ, giải pháp những tháng cuối năm 2026, định hướng năm 2027 và các năm tiếp theo.
Linh hoạt ứng phó, vững vàng trước làn sóng biến động kinh tế
Năm 2025 và 9 tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới phục hồi chưa đồng đều; xung đột địa chính trị, bảo hộ thương mại, tiêu chuẩn kỹ thuật, biến động giá năng lượng, nguyên liệu và vận tải tiếp tục tác động đến chuỗi cung ứng và thị trường xuất khẩu. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; sản xuất, xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng tiếp tục là động lực tăng trưởng, song doanh nghiệp vẫn chịu sức ép về chi phí, tỷ giá, cạnh tranh, yêu cầu xuất xứ, giảm phát thải và phòng vệ thương mại.
Về các yếu tố nội vùng, việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành chính quyền địa phương hai cấp mở rộng không gian phát triển, tạo điều kiện cơ cấu lại nguồn lực và tăng cường liên kết vùng; đồng thời đặt ra yêu cầu thống nhất quy hoạch, cơ chế quản lý, phân cấp và dữ liệu. Khu vực có lợi thế về hạ tầng, nguồn nhân lực, cửa khẩu, cảng biển và các trung tâm công nghiệp, nhưng trình độ phát triển, hạ tầng logistics và năng lực doanh nghiệp giữa các địa phương còn chênh lệch.
Đứng trước những khó khăn và thời cơ đó, ngành Công Thương các địa phương đã chủ động tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, đẩy nhanh dự án, bảo đảm cung ứng năng lượng và hàng hóa, hỗ trợ xuất khẩu, phát triển thương mại điện tử, quản lý thị trường, cải cách hành chính và tăng cường liên kết vùng, góp phần thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Sản xuất công nghiệp duy trì đà bứt phá và giữ vững vai trò đầu tàu
Năm 2025, sản xuất công nghiệp của các tỉnh, thành phố trong khu vực duy trì tăng trưởng tích cực. Các địa phương có chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng trên 10% gồm: Phú Thọ tăng 27,05%; Ninh Bình tăng 22,77%; Bắc Ninh tăng 17,09%; Hải Phòng tăng 15,2%; Quảng Ninh tăng 14,94%; Lai Châu tăng 13,41% và Hưng Yên tăng 12,31%.
Tiếp nối đà tăng trưởng đó, trong 9 tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng; các địa phương có IIP tăng trên 10% gồm: Ninh Bình ước tăng 26,7%; Thái Nguyên tăng 23%; Phú Thọ tăng 22,02%; Hưng Yên tăng 16%; Bắc Ninh tăng 15,9%; Hải Phòng tăng 15,2%; Điện Biên tăng 12,79% và Tuyên Quang tăng 10,05%.
Xét theo cơ cấu ngành và quy mô, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng tại các trung tâm công nghiệp lớn, tập trung vào điện tử, thiết bị điện, ô tô, cơ khí, kim loại, hóa chất, cao su - plastic, dệt may, da giày, giấy và chế biến thực phẩm. Doanh nghiệp quy mô lớn và doanh nghiệp FDI tiếp tục duy trì, mở rộng sản xuất và đóng góp quan trọng vào xuất khẩu.
Bên cạnh đó, các tỉnh trung du, miền núi và biên giới phát huy lợi thế về khoáng sản, thủy điện, vật liệu xây dựng và chế biến nông, lâm sản. Tuy nhiên, tăng trưởng giữa các ngành, địa phương chưa đồng đều; một số dự án còn chậm, chi phí đầu vào và biến động thị trường tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất.
Đối với phát triển Cụm Công nghiệp, tính đến tháng 9 năm 2026, theo số liệu tổng hợp của 15 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc, toàn khu vực có 1.085 cụm công nghiệp trong phương án phát triển đến năm 2030; 638 cụm đã được thành lập và 342 cụm đã đi vào hoạt động. Số cụm đã thành lập tương đương khoảng 58,8% số cụm trong phương án phát triển; số cụm đi vào hoạt động tương đương khoảng 53,6% số cụm đã thành lập.
Mặc dù vậy, quy mô và mức độ phát triển cụm công nghiệp khác nhau giữa các địa phương; số lượng cụm tập trung nhiều tại Hà Nội, Phú Thọ, Hưng Yên, Ninh Bình, Bắc Ninh và Hải Phòng, trong khi một số tỉnh miền núi còn hạn chế về hạ tầng, thị trường và khả năng thu hút nhà đầu tư.
Để giải quyết thực trạng này, các địa phương đã tích cực tham mưu ban hành, sửa đổi quy chế quản lý cụm công nghiệp; rà soát, điều chỉnh phương án phát triển cụm công nghiệp phù hợp với quy hoạch tỉnh và yêu cầu phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính; thẩm định hồ sơ thành lập, điều chỉnh, mở rộng cụm công nghiệp và lựa chọn chủ đầu tư xây dựng hạ tầng. Công tác kiểm tra, đôn đốc tiến độ, hướng dẫn hoàn thiện thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; tháo gỡ khó khăn trong giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng và thu hút dự án thứ cấp được tăng cường. Đồng thời, các địa phương chú trọng quản lý hoạt động sản xuất trong cụm, đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung, bảo đảm an toàn và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, tiến độ triển khai một số cụm còn chậm; hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng bảo vệ môi trường tại một số nơi chưa đồng bộ; việc lựa chọn chủ đầu tư, giải phóng mặt bằng và thu hút dự án thứ cấp vẫn còn nhiều khó khăn.
Thương mại nội địa sôi động, xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng
Năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của 15 tỉnh, thành phố đạt khoảng 2.691,1 nghìn tỷ đồng. Hà Nội có quy mô lớn nhất với 962,9 nghìn tỷ đồng; một số địa phương tăng trưởng cao gồm Bắc Ninh 28,1%, Ninh Bình 18,9%, Quảng Ninh 18,5%, Lào Cai 17,14% và Hải Phòng 15,17%.
Sang đến năm 2026, trong 9 tháng đầu năm, hoạt động thương mại tiếp tục tăng; Bắc Ninh tăng 41,9%, Sơn La 20,98%, Ninh Bình và Lào Cai cùng tăng 20,5%, Lạng Sơn 18,22%, Điện Biên 16,81%, Hưng Yên 16,8% và Lai Châu 16,5% so với cùng kỳ.
Kết quả tích cực này được hỗ trợ bởi sức mua, du lịch, sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu và logistics; cùng với các chương trình khuyến mại, kết nối cung cầu, thương mại điện tử và mở rộng hệ thống phân phối. Nguồn cung hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, giá cả cơ bản ổn định, không xảy ra thiếu hàng hoặc gián đoạn lưu thông.
Song song với thị trường nội địa, xuất nhập khẩu tiếp tục là điểm sáng. Năm 2025, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Bắc Ninh đạt 181,11 tỷ USD, Hải Phòng đạt 91,72 tỷ USD. Trong 9 tháng năm 2026, Bắc Ninh ước đạt 172,8 tỷ USD, Hải Phòng khoảng 79,17 tỷ USD và Ninh Bình 53,58 tỷ USD; hàng xuất khẩu chủ yếu là điện tử, máy móc, cơ khí, dệt may, da giày, gỗ, nông sản và thực phẩm chế biến. [Song song đó,] thương mại biên giới tại Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Tuyên Quang và Điện Biên được duy trì; lưu thông qua cửa khẩu cơ bản ổn định, hỗ trợ tiêu thụ nông sản và kết nối thị trường.
Đến tháng 9 năm 2026, theo số liệu tổng hợp của 15 tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc, toàn khu vực có khoảng 3.190 chợ, 370 siêu thị và 100 trung tâm thương mại. Hệ thống hạ tầng thương mại tiếp tục được đầu tư theo hướng kết hợp giữa thương mại truyền thống và hiện đại; Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh, Phú Thọ và Quảng Ninh là các địa phương có số lượng siêu thị, trung tâm thương mại lớn trong khu vực.
Bên cạnh mạng lưới chợ và siêu thị, toàn khu vực có trên 4.000 cửa hàng xăng dầu. Một số dự án, mô hình đáng chú ý gồm 386 cửa hàng tiện ích tại Hải Phòng; Trung tâm thương mại GO! Phổ Yên tại Thái Nguyên và dự án GO! Tuyên Quang.
Nhìn chung, các địa phương tiếp tục phát triển chợ, siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, kho bãi và logistics. Tuy nhiên, hạ tầng giữa đô thị và nông thôn, miền núi còn chênh lệch; một số chợ xuống cấp, hệ thống chợ đầu mối, kho lạnh và trung tâm logistics còn thiếu.
Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng hành cùng doanh nghiệp
Các Sở Công Thương đã tham mưu chương trình phát triển công nghiệp, theo dõi IIP, doanh nghiệp và dự án trọng điểm; phối hợp tháo gỡ vướng mắc về đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng và điều kiện sản xuất. Nhờ đó, cơ cấu công nghiệp được định hướng theo lợi thế từng địa phương, ưu tiên chế biến, chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ và chế biến sâu; đồng thời tăng cường quản lý cụm công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật và môi trường.
Hoạt động khuyến công tập trung hỗ trợ cơ sở công nghiệp nông thôn đổi mới máy móc, công nghệ, áp dụng sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường. Công tác khảo sát, hướng dẫn xây dựng đề án và quản lý kinh phí được tăng cường; tuy nhiên, một số địa phương còn vướng về cơ chế, định mức, vốn đối ứng và năng lực hoàn thiện hồ sơ.
Các địa phương đã chủ động phương án cung ứng điện, theo dõi phụ tải và xử lý sự cố; rà soát quy hoạch, đôn đốc dự án nguồn và lưới điện, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, đất đai và giải phóng mặt bằng. Đồng thời, công tác quản lý hoạt động điện lực, an toàn đập, phát triển năng lượng tái tạo và sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả tiếp tục được triển khai, gắn với kiểm toán năng lượng, điều chỉnh phụ tải và áp dụng ISO 50001.
Công tác quản lý hóa chất, vật liệu nổ công nghiệp, máy móc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, phòng cháy chữa cháy, bảo vệ môi trường và ứng phó sự cố được tăng cường. Các địa phương chú trọng thẩm định, kiểm tra môi trường, xử lý nước thải, sản xuất sạch hơn và kinh tế tuần hoàn; đồng thời thực hiện hậu kiểm an toàn thực phẩm trong các dịp cao điểm, kiểm soát nguồn gốc, điều kiện sản xuất, bảo quản và lưu thông.
Bên cạnh đó, các địa phương cũng triển khai chương trình phát triển thương mại, quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, kích cầu tiêu dùng và đưa hàng Việt về nông thôn, miền núi, biên giới. Công tác cân đối cung - cầu, bình ổn thị trường, dự trữ hàng hóa thiết yếu, phát triển chợ và hệ thống bán lẻ, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và quản lý thương mại điện tử được thực hiện thường xuyên.
Về lĩnh vực ngoại thương, công tác quản lý xuất nhập khẩu tập trung cung cấp thông tin thị trường, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn kỹ thuật, phòng vệ thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng FTA, đa dạng hóa thị trường. Các địa phương đồng thời rà soát, phát triển trung tâm logistics, cảng cạn, kho bãi và kết nối vận tải đa phương thức nhằm giảm chi phí, rút ngắn thời gian lưu chuyển hàng hóa.
Hoạt động xúc tiến thương mại được triển khai đa dạng, gắn hội chợ, triển lãm, tuần hàng, kết nối cung - cầu với thương mại điện tử, văn hóa, du lịch và liên kết vùng. Cụ thể, nhiều sản phẩm OCOP, nông sản và sản phẩm công nghiệp nông thôn được kết nối với hệ thống phân phối; Hải Phòng phối hợp triển khai trên 70 chương trình, Tuyên Quang tham gia trên 20 sự kiện, Thái Nguyên tổ chức các hoạt động Công Thương - OCOP và thúc đẩy thương mại điện tử khu vực phía Bắc.
Song song với đó, lực lượng Quản lý thị trường tập trung kiểm tra hàng nhập lậu, hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc, xăng dầu, an toàn thực phẩm và kinh doanh trên môi trường số; tăng cường phối hợp liên ngành, liên tỉnh tại cửa khẩu, cảng biển và địa bàn giáp ranh. Kết quả cụ thể, trong 9 tháng đầu năm 2026, Bắc Ninh xử lý 553 vụ, Tuyên Quang 519 vụ, Thái Nguyên 444 vụ; Hải Phòng kiểm tra 764 vụ, xử lý 654 vụ trong thời gian từ ngày 15/12/2025 đến ngày 10/9/2026.
Mở rộng hợp tác, kiến tạo không gian liên kết vùng toàn diện
Năm 2025 và 9 tháng đầu năm 2026, các địa phương tiếp tục cụ thể hóa liên kết vùng bằng kế hoạch, chương trình và biên bản hợp tác, tập trung vào công nghiệp, thương mại, chuỗi cung ứng, logistics, thương mại điện tử, năng lượng, quản lý thị trường và chia sẻ dữ liệu.
Một số nội dung nổi bật có thể kể đến như Phú Thọ triển khai Bản ghi nhớ hợp tác với Thái Nguyên và Bắc Ninh, nghiên cứu vành đai công nghiệp liên vùng; Hải Phòng tham gia kết nối kinh tế trục cao tốc phía Đông và hành lang Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; Bắc Ninh phối hợp Samsung nâng cao năng lực doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ; Hải Phòng xây dựng Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035.
Trong lĩnh vực thương mại, liên kết được thúc đẩy qua hội chợ, tuần hàng và kết nối cung - cầu. Hà Nội tổ chức các đoàn giao thương, tuần hàng và hỗ trợ quảng bá khoảng 1.500 sản phẩm OCOP; Hải Phòng hằng năm hỗ trợ trên 120 lượt doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia hội chợ và phối hợp tổ chức 06 chương trình tuần hàng; Ninh Bình, Cao Bằng và các địa phương triển khai nhiều chương trình kết nối, ký kết hợp tác kinh doanh.
Đáng chú ý, liên kết logistics, thương mại điện tử và dữ liệu từng bước hình thành: Hải Phòng phát triển chuỗi logistics với Quảng Ninh và hiện có 06 trung tâm logistics; Bắc Ninh bố trí container lạnh tại vùng trồng; 05 Sở Công Thương ký biên bản ghi nhớ với các nền tảng, doanh nghiệp công nghệ và ngân hàng để hỗ trợ thương mại điện tử. Các địa phương duy trì trao đổi thông tin về thị trường, cửa khẩu, xuất nhập khẩu và phối hợp quản lý thị trường.
Tạp chí Công Thương sẽ tiếp tục thông tin
