Canada, năm 1972, một loại thuế 15% cho một tấn dầu biển được thu cho Quỹ hoạt động tàu biển Canada. Năm 1974, phản ứng trước khủng hoảng dầu lan rộng, Chính phủ liên bang đã đánh thuế môn bài đặc biệt đối với các loại phương tiện giao thông tiêu thụ nhiều năng lượng như các loại ô tô, xe gắn máy, máy bay, tàu thuyền. Thuế đầu vào cấp liên bang đánh vào xăng dầu từ năm 1985 và 6 loại thuế cấp tỉnh, tiểu khu đối với xăng dầu; Thuế "gas guzzler" cấp tỉnh về chất đốt không hiệu quả sử dụng cho ô tô ở Ontario và các tỉnh khác. Về phí, được thực hiện từ năm 1990: Phí đối với người sử dụng có phí nước (có hiệu quả đối với khoảng 30% thị xã và thị trấn ở Canada); phí hoa lợi cải tạo đất; phí sử dụng nước mưa…; phí khôi phục hoặc loại bỏ được trả trước cho các cơ quan quản lý tài chính đánh vào việc sử dụng thùng đồ uống, ắc quy, các thùng thuốc sâu và thùng sơn gây ô nhiễm; phí một đơn vị phát thải do các cơ quan tài chính địa phương thu đối với hệ thống giám sát chất lượng không khí; phí dành cho các cơ quan chức năng xử lý quy tắc, như là phí liên bang cho giấy phép đổ xuống biển…; phí phát tán, đặc biệt là đối với việc phát thải NO2, SO2, VOC, CO… chủ yếu thực hiện ở cấp tỉnh, cấp tiểu khu.
Pháp, việc sử dụng hình thức phí và lệ phí không có tính chất khuyến khích bởi suất phí và lệ phí thấp. Việc tăng suất phí và lệ phí đối với các chất gây ô nhiễm nguồn nước bởi các ngành công nghiệp đã bị phản đối kịch liệt vì họ không muốn phải chịu thêm gánh nặng về tài chính. Đây là điểm yếu của hệ thống phí và lệ phí của Pháp. Người gây ô nhiễm sẵn sàng thực hiện các biện pháp chống ô nhiễm, nếu họ được giúp đỡ về tài chính nhưng lại không muốn chịu các khoản đóng góp cao hơn để tạo nguồn cho sự hỗ trợ tài chính này.
Đức và Italia, hình thức phí và lệ phí đánh vào chất gây ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm nhận được sự ủng hộ của quần chúng, bởi vì nếu phí và lệ phí đánh vào các chất gây ô nhiễm như chất lắng đọng, các chất bị ôxy hóa, thủy ngân, cadimi, v.v… mà sau khi công bố suất lệ phí, nếu doanh nghiệp nào tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn về lượng phát thải, doanh nghiệp đó sẽ được giảm 50% phí và lệ phí.
Hà Lan, Thụy Điển, Hoa Kỳ và một số nước khác, các công cụ thuế và phí cũng được sử dụng rộng rãi trong tất cả các hoạt động bảo vệ môi trường, đặc biệt đối với nguồn nước và không khí.
Lần đầu tiên ở Hoa Kỳ và một số nước Tây Âu, đặc biệt là ở Đức đã đưa ra hình thức giấy phép phát thải có thể mua bán được. Các giấy phép được sử dụng dựa trên nguyên tắc là bất cứ một sự gia tăng chất thải nào cũng phải được cân bằng với giảm chất thải tương ứng. Mặc dù có sự phản đối, song ngày càng nhiều các tổ chức môi trường ở Hoa Kỳ ủng hộ việc sử dụng giấy phép phát thải có thể mua bán và chuyển nhượng.
Biện pháp sử dụng tín phiếu giảm phát thải được sử dụng rộng rãi nhất ở Hoa Kỳ và thực tế đã thu được kết quả tốt, nhất là trong lĩnh vực khống chế ô nhiễm môi trường không khí, còn các môi trường nước, chất thải rắn… không hiệu quả do chi phí kiểm soát lớn hơn nhiều so với chi phí tiết kiệm được của các cơ sở tham gia.
Động cơ tài chính là các khả năng chuyển nhượng, kỳ phiếu vay, trợ cấp qua tỷ lệ lãi quất qua thuế, nhằm tạo ra động lực kinh tế cho việc tuân thủ các quy định và đạt hiệu quả rõ rệt ở các nước OECD. Bên cạnh đó, họ còn áp dụng có hiệu quả hệ thống đặt cọc - hoàn trả (thực chất là việc cộng thêm vào giá bán sản phẩm một khoản phụ thu, được áp dụng với các mặt hàng có thể gây ô nhiễm); quản lý các quỹ môi trường…
Thực tiễn sử dụng các công cụ kinh tế vào mục đích bảo vệ môi trường ở các nước OECD đã đạt được các mặt tích cực, như: Điều chỉnh hành vi môi trường một cách tự nhiên bằng thuế, phí và lệ phí; đạt được hiệu quả chi phí với một mức thải cho phép; sử dụng các công cụ kinh tế vào mục đích bảo vệ môi trường đối với các doanh nghiệp không chỉ có tác dụng lâu dài, trực tiếp nhằm thay đổi hành vi của họ, mà còn có tác dụng sâu xa tới việc nghiên cứu, triển khai, thay đổi kỹ thuật, công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường; gia tăng nguồn thu cho Quỹ trong bảo vệ môi trường, tạo thêm cơ sở vật chất phục vụ trở lại môi trường, đồng thời góp phần sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hiện tại.