Luật Dầu khí (sửa đổi): Những điểm mới tạo động lực phát triển ngành dầu khí

Với những cơ chế mới về ưu đãi đầu tư, khai thác tài nguyên, phân cấp, phân quyền và mở hành lang pháp lý cho các lĩnh vực năng lượng mới, Luật Dầu khí (sửa đổi) được các chuyên gia đánh giá sẽ tạo thêm nền tảng để khơi thông nguồn lực, phát huy giá trị của hệ sinh thái dầu khí và mở rộng không gian phát triển của ngành công nghiệp - năng lượng.
Ngày 23/8/2026, Luật Dầu khí (sửa đổi) được thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với 94,60% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội
Ngày 23/8/2026, Luật Dầu khí (sửa đổi) được thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với 94,60% số đại biểu Quốc hội tham gia biểu quyết tán thành - Ảnh: Cổng TTĐT Quốc hội

Sáng 23/8/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) với 94,60% đại biểu có mặt tán thành. Luật tập trung vào 5 nhóm chính sách lớn, gồm đơn giản hóa thủ tục và tăng phân quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng, hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; xây dựng khung pháp lý về giảm phát thải, thu giữ và lưu trữ carbon (CCS).

Những nội dung này được xây dựng trong bối cảnh hoạt động tìm kiếm, thăm dò dầu khí ngày càng khó khăn, nhiều mỏ hiện hữu bước vào giai đoạn suy giảm, trong khi yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng và chuyển dịch sang mô hình công nghiệp - năng lượng đặt ra những nhiệm vụ mới đối với ngành dầu khí.

Từ góc nhìn của đại biểu Quốc hội trực tiếp tham gia thảo luận dự án Luật và người đứng đầu Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), ông Lê Ngọc Sơn - Chủ tịch HĐTV Petrovietnam nhìn nhận, thay đổi bao trùm của lần sửa đổi này là chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy thể chế kiến tạo phát triển.

Theo ông Lê Ngọc Sơn, Luật được thiết kế theo hướng vừa khơi thông nguồn lực, vừa nâng cao hiệu quả quản lý, thể hiện ở ba hướng lớn: đẩy mạnh phân cấp, phân quyền và đơn giản hóa quy trình; hoàn thiện cơ chế đầu tư đối với các nguồn tài nguyên khó phát triển như mỏ nhỏ, mỏ cận biên, khu vực nước sâu, xa bờ và nâng cao hệ số thu hồi dầu; đồng thời từng bước mở thêm không gian phát triển cho ngành.

“Ý nghĩa của lần sửa Luật này không nằm ở số điều khoản mới, mà ở khả năng chuyển hóa thể chế thành dự án được triển khai, trữ lượng được gia tăng, sản lượng được duy trì - thành nguồn năng lượng phục vụ phát triển đất nước”, ông Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh.

ĐBQH, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Lê Ngọc Sơn
ĐBQH, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) Lê Ngọc Sơn - Ảnh: Petrovietnam

Cơ chế mới cho nguồn tài nguyên ngày càng khó khai thác

Một trong những điểm đáng chú ý của Luật Dầu khí (sửa đổi) là các cơ chế nhằm tạo thêm dư địa phát triển những nguồn tài nguyên dầu khí có điều kiện khai thác ngày càng khó khăn.

Thực tế, phần lớn các mỏ có điều kiện thuận lợi đã được đưa vào khai thác, trong khi các phát hiện mới ngày càng tập trung ở khu vực nước sâu, xa bờ, có điều kiện địa chất phức tạp, chi phí đầu tư và mức độ rủi ro cao. Nhiều phát hiện có quy mô nhỏ hoặc thuộc nhóm mỏ cận biên, khiến khả năng phát triển thành dự án thương mại phụ thuộc lớn vào điều kiện kỹ thuật, giá dầu và cơ chế tài chính áp dụng.

PGS.TS Nguyễn Thế Vinh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất phân tích, hoạt động dầu khí có chu kỳ đầu tư dài, rủi ro địa chất cao, vốn đầu tư lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài. Vì vậy, sức hấp dẫn của môi trường đầu tư không chỉ phụ thuộc vào ưu đãi tài chính mà còn nằm ở tính ổn định, minh bạch và khả năng dự báo của hệ thống pháp luật.

Theo chuyên gia, bài toán hiện nay không chỉ nằm ở việc phát hiện dầu khí mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để các phát hiện đó có thể được phát triển thành dự án khả thi về kinh tế. Cơ chế ưu đãi vì vậy cần tính tới đặc điểm, mức độ rủi ro và hiệu quả tài chính của từng mỏ, thay vì áp dụng một cách đồng loạt.

Từ thực tiễn đó, việc Luật Dầu khí (sửa đổi) bổ sung, hoàn thiện các chính sách ưu đãi đầu tư, trong đó có cơ chế đối với mỏ, cụm mỏ, lô dầu khí khai thác tận thu, tạo thêm công cụ để xử lý bài toán kinh tế của những nguồn tài nguyên khó phát triển. Đây cũng là hướng đi được các chuyên gia nhìn nhận phù hợp với sự thay đổi về đặc điểm tài nguyên dầu khí của Việt Nam.

PGS.TS Nguyễn Thế Vinh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất - Ảnh: Petrotimes
PGS.TS Nguyễn Thế Vinh - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Mỏ - Địa chất - Ảnh: Petrotimes

TS Phan Ngọc Trung - Nguyên Thành viên HĐTV Petrovietnam, Trưởng Ban Tư vấn - Phản biện Hội Dầu khí Việt Nam cho biết, phần lớn các phát hiện dầu khí mới của Việt Nam là mỏ nhỏ, mỏ cận biên, phân tán, điều kiện địa chất phức tạp, hàm lượng tạp chất cao, nằm ở vùng nước sâu, xa bờ, chi phí lớn và rủi ro cao. Do đó, việc bổ sung cơ chế ưu đãi nhằm khuyến khích tận thu tài nguyên và phát triển các mỏ cận biên có ý nghĩa đối với việc duy trì sản lượng khai thác và nâng cao năng lực tự chủ năng lượng quốc gia.

Góc nhìn này cũng cho thấy ý nghĩa của chính sách ưu đãi không chỉ nằm ở việc dành thêm lợi ích cho nhà đầu tư, mà ở khả năng tạo điều kiện để những phần tài nguyên vốn khó đạt hiệu quả kinh tế theo điều kiện thông thường có cơ hội được đưa vào khai thác.

Đại biểu Nguyễn Duy Thanh (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) từng chỉ ra khi Quốc hội thảo luận dự án Luật: “Cái khó của ngành dầu khí hôm nay không phải là hết dầu, hết khí. Cái khó là tài nguyên còn nhưng nằm ở chỗ khó lấy”. Với các mỏ cận biên, nếu điều kiện hợp đồng thông thường không bảo đảm hiệu quả kinh tế tối thiểu thì thiếu một cơ chế đủ phù hợp cũng đồng nghĩa nguồn tài nguyên có thể chưa được đưa vào phát triển.

Ở một khía cạnh khác, Đại biểu Đinh Ngọc Minh (Đoàn ĐBQH tỉnh Cà Mau) đánh giá cao việc Luật bổ sung các cơ chế ưu đãi, tập trung vào các mỏ cận biên, mỏ có điều kiện khai thác khó khăn và các dự án áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao hệ số thu hồi dầu. Theo đại biểu, thực tế vẫn còn nhiều mỏ đã khai thác trong thời gian dài nhưng chưa tận thu hết trữ lượng; cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, những phần tài nguyên trước đây chưa thể khai thác có thể được thu hồi nếu có cơ chế phù hợp để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư.

Theo đại biểu Đinh Ngọc Minh, các cơ chế ưu đãi sẽ tạo thêm động lực để doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến, triển khai các giải pháp kỹ thuật mới nhằm khai thác hiệu quả phần tài nguyên còn lại, qua đó kéo dài vòng đời các mỏ dầu khí, gia tăng sản lượng khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn tài nguyên quốc gia.

Mở hành lang pháp lý để gia tăng giá trị hệ sinh thái dầu khí

Nếu các cơ chế ưu đãi và khai thác tận thu hướng tới phát huy tốt hơn giá trị của nguồn tài nguyên dầu khí hiện có, thì một điểm mới khác của Luật Dầu khí (sửa đổi) mở rộng dư địa phát triển theo một hướng rộng hơn: phát huy hạ tầng, dữ liệu, công nghệ, nhân lực và năng lực kỹ thuật mà ngành dầu khí đã tích lũy trong nhiều thập kỷ.

Luật đã bổ sung các nội dung về thu giữ và lưu trữ carbon, phát triển công trình năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao gắn với hoạt động dầu khí. Phạm vi được xác định đối với những hoạt động có liên hệ trực tiếp với hoạt động dầu khí, qua đó tạo cơ sở để sử dụng chung hạ tầng và phát huy các nguồn lực sẵn có của ngành.

Đánh giá về bước mở rộng này, Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) cho rằng, nếu Luật Dầu khí năm 2022 chủ yếu điều chỉnh các hoạt động điều tra cơ bản, tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí thì Luật Dầu khí (sửa đổi) đã mở rộng sang phát triển chuỗi giá trị dầu khí, dịch vụ dầu khí công nghệ cao, năng lượng ngoài khơi và thu giữ, lưu trữ carbon (CCS). Theo đại biểu, đây không đơn thuần là mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật mà là từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý cho phát triển kinh tế năng lượng ngoài khơi của Việt Nam trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng và thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) - Ảnh: Petrotimes
Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình (Đoàn ĐBQH tỉnh Hưng Yên) - Ảnh: Petrotimes

Đại biểu Nguyễn Thị Thanh Bình nhấn mạnh, giá trị lớn nhất của những nội dung sửa đổi không nằm ở việc điều chỉnh các quy định về hoạt động dầu khí truyền thống, mà ở bước chuyển từ tư duy quản lý riêng ngành dầu khí sang tư duy quản trị tổng hợp các nguồn lực năng lượng ngoài khơi. Việc bổ sung khái niệm “năng lượng ngoài khơi”, khuyến khích phát triển năng lượng ngoài khơi gắn với hoạt động dầu khí và tận dụng cơ sở hạ tầng, thông tin, dữ liệu của ngành dầu khí được đại biểu đánh giá cao, qua đó đặt nền móng cho việc khai thác đa mục tiêu trên cùng không gian biển và hệ thống hạ tầng ngoài khơi.

Theo TS Nguyễn Hữu Lương - Chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam, hoạt động của Petrovietnam hiện không còn chỉ gắn với tìm kiếm, thăm dò và khai thác truyền thống mà đang từng bước mở rộng sang các chuỗi giá trị năng lượng và công nghiệp biển. Petrovietnam có lợi thế về hạ tầng kỹ thuật ngoài khơi, dữ liệu địa chất, năng lực khảo sát, thiết kế, thi công và vận hành các công trình biển quy mô lớn. Đây là những nền tảng quan trọng để tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị năng lượng biển.

Từ góc nhìn này, việc Luật mở hành lang cho các lĩnh vực mới gắn với hoạt động dầu khí tạo điều kiện để những nguồn lực đã được đầu tư và tích lũy tiếp tục phát huy giá trị. Hệ thống công trình ngoài khơi, đường ống, dữ liệu địa chất - địa vật lý, năng lực khảo sát và công trình biển không chỉ phục vụ khai thác dầu khí truyền thống mà có thể trở thành nền tảng cho những hoạt động năng lượng mới.

Đặc biệt, CCS là một trong những nội dung lần đầu được đưa vào khuôn khổ pháp lý của Luật Dầu khí. Luật bổ sung quy định liên quan đến thu giữ, xử lý, vận chuyển, bơm ép và lưu giữ CO gắn với hoạt động dầu khí; đồng thời quy định về sử dụng chung hạ tầng và trách nhiệm sau đóng mỏ.

TS Nguyễn Hữu Lương - Chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam - Ảnh: Petrovietnam
TS Nguyễn Hữu Lương - Chuyên gia cao cấp Viện Dầu khí Việt Nam - Ảnh: Petrovietnam

PGS.TS Nguyễn Thế Vinh đánh giá, CCUS không chỉ mở ra một lĩnh vực đầu tư mới mà còn là nền tảng công nghệ quan trọng để ngành dầu khí chuyển dịch theo hướng phát triển carbon thấp, phát huy giá trị của hạ tầng hiện có và góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0” của Việt Nam. Theo ông, việc luật hóa CCS/CCUS sẽ tạo cơ sở pháp lý để thu hút đầu tư, thúc đẩy nghiên cứu, triển khai các dự án và từng bước hình thành các chuỗi giá trị mới phục vụ mục tiêu chuyển dịch năng lượng.

Từ góc độ khai thác hiệu quả các nguồn lực sẵn có của ngành dầu khí, TS Nguyễn Hữu Lương cho rằng, Luật Dầu khí (sửa đổi) cần tạo cơ sở pháp lý cho việc tái sử dụng các mỏ dầu khí đã ngừng khai thác phục vụ lưu trữ CO₂. Cùng với đó, hệ thống hạ tầng, nguồn nhân lực và kinh nghiệm vận hành đã được tích lũy có thể tiếp tục được phát huy trong các hoạt động năng lượng mới trên biển. 

Đây cũng là cách tiếp cận được ĐBQH Phan Đức Hiếu nhấn mạnh khi góp ý dự án Luật. Theo đại biểu, mục tiêu là “sử dụng hiệu quả nhất những gì đã có, tránh đầu tư trùng lặp”, đồng thời phát huy giá trị của những tài sản Nhà nước và doanh nghiệp đã đầu tư trong nhiều năm.

Không gian phát triển mới còn được mở rộng thông qua các quy định về công trình năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật dầu khí công nghệ cao. Năng lực khảo sát biển, khoan, thiết kế và thi công công trình ngoài khơi, chế tạo thiết bị, vận hành, bảo dưỡng hay quản lý dự án được hình thành trong ngành dầu khí có thể tiếp tục được phát huy khi Việt Nam phát triển các lĩnh vực năng lượng mới trên biển.

Theo TS Nguyễn Hữu Lương, ý nghĩa chiến lược của cách tiếp cận này nằm ở việc kết nối dầu khí với phát triển kinh tế biển. Hoạt động điều tra cơ bản, khảo sát địa chất và đánh giá tài nguyên biển được ngành dầu khí thực hiện trong nhiều năm đã tạo ra nguồn dữ liệu quan trọng; nếu được khai thác hiệu quả, đây có thể trở thành nền tảng cho sự hình thành các cụm công nghiệp năng lượng biển trong tương lai.

Như vậy, giá trị của khuôn khổ pháp lý mới không chỉ nằm ở việc tiếp tục khai thác dầu khí, mà còn ở khả năng kéo dài và mở rộng chuỗi giá trị của toàn bộ hệ sinh thái đã được hình thành xung quanh ngành dầu khí - từ tài nguyên, hạ tầng, dữ liệu đến công nghệ, dịch vụ và nguồn nhân lực.

Phân cấp, phân quyền tạo thêm tính chủ động

Cùng với các cơ chế đầu tư và mở rộng không gian phát triển, tăng cường phân cấp, phân quyền là một trong những tinh thần xuyên suốt của Luật Dầu khí (sửa đổi). Theo nội dung Luật, một số thẩm quyền được phân cấp cho cơ quan quản lý nhà nước về dầu khí và giao cho Petrovietnam, đồng thời đi cùng yêu cầu tăng cường kiểm tra, giám sát.

TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh đánh giá hướng tiếp cận này phù hợp với yêu cầu xây dựng một khung pháp lý hiện đại cho ngành dầu khí và vai trò mới của Petrovietnam trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng.

Theo TS Võ Trí Thành, cơ chế quản trị cần dựa trên ba nguyên tắc “minh bạch - phân cấp - đơn giản hóa”. Thay vì duy trì các thủ tục hành chính chồng chéo, việc xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, minh bạch quy trình và rút ngắn thời gian xử lý sẽ nâng cao tính chủ động của Petrovietnam trong triển khai các nhiệm vụ và dự án.

Việc trao quyền có ý nghĩa đặc biệt đối với doanh nghiệp giữ vai trò dẫn dắt trong ngành năng lượng, bởi các dự án dầu khí thường có quy mô đầu tư lớn, kỹ thuật phức tạp, chu kỳ triển khai dài và phụ thuộc nhiều vào khả năng ra quyết định kịp thời.

TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh
TS Võ Trí Thành - Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh

PGS.TS Nguyễn Thế Vinh cũng cho rằng, tăng cường phân cấp cho Petrovietnam sẽ giúp Tập đoàn chủ động hơn trong quản lý danh mục dự án, rút ngắn thời gian xử lý công việc và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực. Cách tiếp cận này đồng thời cho phép cơ quan quản lý nhà nước tập trung hơn vào xây dựng thể chế, ban hành quy định, kiểm tra và giám sát.

Điểm đáng chú ý là phân cấp trong Luật được đặt cùng với yêu cầu về trách nhiệm và kiểm soát. Một số thẩm quyền liên quan đến quốc phòng, an ninh, bất khả kháng vẫn thuộc cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; trong khi việc giao thêm quyền cho Petrovietnam đi cùng cơ chế kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

Theo Chủ tịch HĐTV Petrovietnam Lê Ngọc Sơn, nguyên tắc cốt lõi là trao quyền đến đâu, trách nhiệm và kiểm soát phải theo đến đó. Phân quyền không đồng nghĩa với giảm kiểm soát, mà hướng tới phương thức kiểm soát thực chất hơn, dựa trên minh bạch, quản trị rủi ro và kết quả.

Đây cũng là tinh thần tương đồng với quan điểm của TS Võ Trí Thành khi cho rằng trao quyền nhiều hơn cho doanh nghiệp đi cùng cơ chế giám sát phù hợp sẽ hiệu quả hơn quản lý bằng các quy trình chồng chéo hoặc quy định quá cứng nhắc.

dầu khí

Từ cơ chế cho những nguồn tài nguyên ngày càng khó khai thác, hành lang pháp lý cho CCS, năng lượng ngoài khơi và dịch vụ kỹ thuật công nghệ cao đến tăng cường phân cấp, phân quyền, những nội dung mới của Luật Dầu khí (sửa đổi) đã tác động đồng thời tới nhiều lớp giá trị của ngành: tài nguyên, đầu tư, hạ tầng, công nghệ, quản trị và không gian phát triển.

Qua đánh giá của các chuyên gia, điểm đáng chú ý của lần sửa đổi này là khuôn khổ pháp lý không chỉ hướng tới xử lý những vấn đề của hoạt động dầu khí hiện tại, mà còn tạo nền tảng để phát huy tổng thể hơn những nguồn lực ngành dầu khí đã tích lũy, đồng thời kết nối với các chuỗi giá trị công nghiệp - năng lượng mới.

Như ông Lê Ngọc Sơn nhấn mạnh, thước đo ý nghĩa của Luật nằm ở khả năng chuyển hóa thể chế thành dự án được triển khai, trữ lượng được gia tăng, sản lượng được duy trì và nguồn năng lượng phục vụ phát triển đất nước. Với cách tiếp cận đó, Luật Dầu khí (sửa đổi) tạo thêm nền tảng pháp lý để vừa phát huy hiệu quả nguồn tài nguyên dầu khí, vừa mở rộng giá trị của hạ tầng, công nghệ và năng lực ngành dầu khí trong giai đoạn phát triển mới.

Thy Thảo