[eMagazine] An Giang: Từ sản vật và giá trị bản địa đến tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số
Từ những cây thốt nốt giữa vùng Bảy Núi, những cánh đồng cỏ bàng Phú Mỹ đến khung cửi của làng dệt thổ cẩm Khmer Văn Giáo, An Giang đang từng bước đưa những giá trị bản địa thành sản phẩm hàng hóa. Tỉnh An Giang đang tổ chức lại sản xuất, xây dựng thương hiệu, phát triển OCOP, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường. Đằng sau mỗi sản phẩm không chỉ là câu chuyện văn hóa, mà còn là câu chuyện sinh kế của cộng đồng.
Vùng Bảy Núi tỉnh An Giang từ lâu gắn với cảnh quan đặc trưng và đời sống văn hóa phong phú của đồng bào Khmer. Điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất cùng những kinh nghiệm được trao truyền qua nhiều thế hệ đã tạo nên hệ thống sản vật và nghề truyền thống mang dấu ấn riêng của cộng đồng.
Trong đó, thốt nốt, cỏ bàng và thổ cẩm Khmer là những sản phẩm tiêu biểu. Mỗi sản phẩm có cách hình thành khác nhau nhưng đều gắn với đời sống, sinh kế và bản sắc văn hóa. Khi được tổ chức sản xuất bài bản hơn, những sản vật quen thuộc đang từng bước trở thành hàng hóa có giá trị, mở thêm việc làm và tạo nguồn thu nhập cho người dân.
Ông Danh Tha, Phó Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh An Giang, cho biết tỉnh An Giang mới có gần 5 triệu dân, với khoảng 472.132 người dân tộc thiểu số, chủ yếu gồm Khmer, Hoa và Chăm, chiếm 9,53% dân số; trong đó đồng bào Khmer hơn 399.000 người. Những năm qua, địa phương triển khai nhiều chương trình, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất, ổn định đời sống.
Đồng bào Khmer sinh sống đông nhất là ở khu vực Bảy Núi, trong đó tập trung tại khu vực Tri Tôn và Tịnh Biên. Đây cũng là không gian hình thành nhiều sản phẩm đặc trưng gắn với tự nhiên và văn hóa cộng đồng tạo sinh kế như: Thốt nốt, Cỏ bàng, Thổ cẩm... Vì vậy, phát triển sản vật địa phương không đơn thuần là tạo thêm một mặt hàng, mà còn là quá trình biến lợi thế bản địa thành những sản phẩm, thương hiệu có giá trị kinh tế, đồng thời gìn giữ những yếu tố văn hóa làm nên sự khác biệt của sản phẩm.
Nếu lựa chọn một hình ảnh tiêu biểu của Bảy Núi, cây thốt nốt là một trong những sản vật đặc trưng nhất. Cây thốt nốt gắn bó với đời sống đồng bào Khmer qua nhiều thế hệ. Nghề lấy mật và chế biến thốt nốt được truyền lại, tạo nên nhiều sản phẩm như nước, đường, mật thốt nốt, nước màu, thốt nốt rim, bánh bò và các sản phẩm chế biến khác.
Điểm đáng chú ý là thốt nốt đang được nhìn nhận không chỉ như một sản vật truyền thống mà từng bước trở thành ngành hàng có khả năng tạo giá trị gia tăng. Các cơ sở sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm, cải tiến quy trình, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường.
Năm 2025, ba sản phẩm mật thốt nốt khô, mật thốt nốt sệt và mật thốt nốt hạt của Công ty Cổ phần Palmania được công nhận OCOP 5 sao, đã xuất khẩu các sản phẩm từ mật và đường thốt nốt sang các thị trường quốc tế như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan và Phần Lan..
Từ vùng nguyên liệu đến thu hoạch, chế biến, đóng gói và phân phối, chuỗi sản phẩm tạo thêm giá trị, việc làm và thu nhập cho nhiều chủ thể. Từ nghề truyền thống, thốt nốt Bảy Núi đang từng bước trở thành hàng hóa có giá trị, vừa góp phần phát triển kinh tế, tạo sinh kế vừa bảo tồn nghề bản địa và bản sắc văn hóa Khmer.
Nếu thốt nốt tạo dấu ấn cho cảnh quan Bảy Núi thì sản phẩm từ cỏ bàng Phú Mỹ lại gắn với vùng đất ngập nước và đời sống đồng bào Khmer khu vực biên giới.
Từ nguồn nguyên liệu bản địa, người dân hình thành nghề phơi, xử lý và đan cỏ bàng. Nghề truyền thống này vừa tận dụng tài nguyên tại chỗ, vừa tạo việc làm, thu nhập, đặc biệt cho phụ nữ Khmer.
Để thích ứng với thị trường, sản phẩm cỏ bàng đã được đa dạng hóa. Từ những sản phẩm quen thuộc như đệm, giỏ, các cơ sở sản xuất phát triển thêm túi xách, balo, bóp, nón, dép, gối và nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ khác. Một điển hình kinh tế tập thể là HTX Phụ nữ cỏ Bàng Phú Mỹ đã giúp các thành viên giữ nghề, tạo sinh kế bền vững.
HTX Phụ nữ cỏ bàng Phú Mỹ hiện có 30 xã viên, trong đó có các xã viên người Khmer. Sản phẩm của HTX được công nhận OCOP 4 sao cấp tỉnh và tiêu thụ tại nhiều địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng...
Ông Lý Hoàng Bảo, Giám đốc HTX Phụ nữ cỏ bàng Phú Mỹ cho biết đơn vị nhận được sự hỗ trợ của Sở Công Thương, Sở Nông nghiệp và Môi trường, Trung tâm Trung tâm Xúc tiến Đầu tư, Thương mại và Du lịch tỉnh An Giang, Liên minh HTX trong quảng bá và kết nối tiêu thụ thông qua hội chợ, các chương trình xúc tiến thương mại và thương mại điện tử. Mở rộng đầu ra giúp thành viên yên tâm duy trì sản xuất. Khi sản phẩm tạo ra thu nhập và việc làm, người dân có thêm động lực duy trì vùng nguyên liệu, truyền nghề và gìn giữ các giá trị văn hóa.
Nếu thốt nốt và cỏ bàng tạo giá trị từ tài nguyên bản địa, thổ cẩm Khmer được làm nên từ đôi bàn tay, kỹ thuật và tri thức truyền thống văn hóa của người thợ.
Tại ấp Sray Skoth, xã An Cư, nơi 100% đồng bào dân tộc thiểu số Khmer sinh sống, nghề dệt được truyền qua nhiều thế hệ. Từ những sản phẩm chủ yếu là sà rông, người dân nay phát triển thêm khăn choàng, áo choàng, túi xách và đồ lưu niệm. Mỗi sản phẩm trải qua nhiều công đoạn thủ công, từ chuẩn bị tơ, nhuộm màu, kéo sợi, dệt đến tạo hoa văn, trong đó nhiều họa tiết mang giá trị văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng.
Hợp tác xã Dệt thổ cẩm Văn Giáo là mô hình tiêu biểu bảo tồn và phát triển nghề dệt truyền thống Khmer, với hơn 70 hộ dân và trên 120 thành viên. Nghệ nhân Neáng Chanh Ty thành viên HTX, người có gần 30 năm gắn bó với nghề, cho biết để hoàn thiện một sản phẩm, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn công phu; những hoa văn cầu kỳ, tinh xảo là kết quả của kỹ thuật và kinh nghiệm mà máy móc khó thay thế. Theo chị, một thợ giỏi cũng phải mất 5 - 7 ngày mới xong 1 sản phẩm. Trung bình, mỗi thợ dệt thu được từ 3 - 6 triệu đồng/tháng.
Từ nghề truyền thống, thổ cẩm Văn Giáo từng bước trở thành sinh kế, tạo việc làm cho phụ nữ Khmer nghèo, cận nghèo. Sản phẩm được tiêu thụ trong nước, xuất khẩu sang Thái Lan, Campuchia, Myanmar và phục vụ khách du lịch quốc tế. Năm 2006, “Lụa thổ cẩm Văn Giáo” được bảo hộ nhãn hiệu tập thể; năm 2023, sà rông thổ cẩm Khmer Văn Giáo đạt OCOP 3 sao.
Với thổ cẩm, phát triển sinh kế cũng là cách bảo tồn văn hóa. Khi nghề dệt được duy trì, kỹ thuật, hoa văn, ký ức và bản sắc Khmer tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ.
Để sản vật truyền thống vượt khỏi phạm vi làng nghề và trở thành hàng hóa có giá trị, tỉnh An Giang đang tập trung tổ chức lại sản xuất, nâng chất lượng và mở rộng thị trường. Từ thốt nốt, cỏ bàng đến thổ cẩm Khmer, các sản phẩm đặc trưng từng bước được đưa vào chuỗi giá trị, trong đó chất lượng, thương hiệu, câu chuyện văn hóa và khả năng tiếp cận thị trường được xem là những yếu tố then chốt.
Việc phát triển tổ hợp tác, hợp tác xã (HTX) và doanh nghiệp tạo điều kiện tập hợp nguyên liệu, thống nhất quy trình sản xuất, kiểm soát chất lượng và nâng sức cạnh tranh. Đây cũng là cầu nối giúp các hộ sản xuất nhỏ tiếp cận chính sách hỗ trợ, xúc tiến thương mại và những thị trường lớn hơn.
Theo Liên minh HTX tỉnh An Giang, đến 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.749 tổ hợp tác với 67.393 thành viên và 873 HTX, trong đó có 733 HTX nông nghiệp. Nhiều HTX đã đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, tham gia chương trình OCOP, xây dựng chuỗi giá trị và xúc tiến thương mại.
Ông Dương Thanh Quan, Phó Chủ tịch Liên minh HTX tỉnh An Giang, cho biết Liên minh phối hợp với các ngành, địa phương hỗ trợ HTX xây dựng chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, kết nối với doanh nghiệp, hỗ trợ hợp đồng liên kết; đồng thời tạo điều kiện để HTX tham gia hội chợ, chương trình xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm OCOP và sản phẩm đặc trưng.
Đối với sản phẩm của đồng bào dân tộc thiểu số, việc hình thành các chủ thể HTX càng có ý nghĩa. Từ những cơ sở sản xuất quy mô hộ gia đình, người dân có thể liên kết để tập hợp nguyên liệu, thống nhất quy trình, nâng chất lượng và từng bước tham gia sâu hơn vào thị trường.
Ở khâu phát triển thị trường, ngành Công Thương An Giang đẩy mạnh xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, mở rộng hệ thống phân phối và thương mại điện tử.
Theo ông Nguyễn Minh Triết, Phó Giám đốc Sở Công Thương An Giang, từ đầu năm đến cuối tháng 9/2026, tỉnh đã tham gia, tổ chức ít nhất 13 hội chợ, triển lãm và sự kiện thương mại trong nước, quốc tế, qua đó quảng bá và kết nối tiêu thụ sản phẩm địa phương.
Nhiều sản phẩm đặc trưng, sản phẩm OCOP của tỉnh được đưa vào các hệ thống phân phối như Co.op Mart, Big C, Lotte, VinMart, Bách hóa Xanh và các sàn thương mại điện tử Voso, Postmart, Lazada, Shopee, Sendo. Tỉnh đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ sản xuất tham gia hội chợ, triển lãm, diễn đàn kết nối cung - cầu; xây dựng các điểm giới thiệu, quảng bá sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương.
Các hoạt động xúc tiến thương mại được triển khai tại nhiều địa bàn, trong đó có Hội chợ Mùa Xuân tại Hà Nội, Hội chợ Thương mại quốc tế Tịnh Biên, Hội chợ Triển lãm Công Thương tại Phú Quốc, Hội chợ EWEC tại Đà Nẵng và CAEXPO 2026 tại Trung Quốc. Tháng 6/2026, Sở Công Thương phối hợp tổ chức hội nghị kết nối giao thương sản phẩm OCOP và sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu với TP. Hồ Chí Minh; đồng thời triển khai chương trình “Sức sống hàng Việt” số 12 với chủ đề “An Giang - Tinh hoa miền Tây”...
Hàng loạt chính sách được UBND tỉnh An Giang triển khai nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của địa phương như: Ban hành Kế hoạch xúc tiến thương mại giai đoạn 2026-2030, xác định hội chợ, tuần lễ hàng Việt, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia thương mại điện tử, phát triển thương hiệu và kết nối chuỗi sản xuất - phân phối - tiêu dùng là những nhiệm vụ trọng tâm; Kế hoạch số 470/KH-UBND ngày 19/8/2026 của UBND tỉnh An Giang triển khai Nghị định số 248/2026/NĐ-CP, hướng tới nâng cao hiệu lực quản lý, bảo đảm thương mại điện tử công khai, minh bạch, an toàn, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh nâng cao năng lực cạnh tranh.
Vừa qua, ngày 26/9/2026, Sở Công Thương Đã phối hợp tổ chức thành công Hội thảo “Phát triển sản phẩm OCOP trên nền tảng số”. Qua thảo luận của đại biểu tham dự Hội thảo, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Công Thức cho biết, An Giang chính thức công bố triển khai Mô hình 22 trên toàn tỉnh sau thời gian thí điểm thành công. Đây là cam kết mạnh mẽ của tỉnh trong việc số hóa sản phẩm OCOP, đặc sản và dịch vụ du lịch, kết nối An Giang với cả nước và thế giới; và cũng là bước ngoặt quan trọng, giúp hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững, gắn kết 03 trụ cột: Nông nghiệp - công thương - du lịch.
Tại hội thảo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ngô Công Thức khẳng định An Giang đặt mục tiêu đưa sản phẩm OCOP lên các sàn thương mại điện tử, kết nối trực tiếp với người tiêu dùng, ứng dụng công nghệ số trong quảng bá và khai thác tiềm năng du lịch văn hóa, sinh thái, biển đảo. Qua đó, tỉnh hướng tới xây dựng hệ sinh thái kinh tế số nông thôn, lấy người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp làm trung tâm, từng bước nâng giá trị và mở rộng thị trường cho sản vật địa phương.
Mục tiêu của tỉnh An Giang phát triển sản vật địa phương không chỉ là có thêm các sản phẩm OCOP, mà quan trọng hơn là tạo điều kiện để người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, trở thành chủ thể trực tiếp tạo ra và hưởng lợi từ giá trị sản phẩm.
Trong Chương trình OCOP giai đoạn 2026-2030, An Giang đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 250 sản phẩm từ 3 sao trở lên, trong đó có 5 sản phẩm 5 sao cấp quốc gia và 25 sản phẩm 4 sao; 30% chủ thể xây dựng chuỗi giá trị theo hướng kinh tế tuần hoàn và 100% sản phẩm OCOP tham gia các kênh bán hàng hiện đại hoặc sàn thương mại điện tử.
Từ tổ chức lại sản xuất, nâng tầm giá trị bản địa đến mở rộng thị trường, hướng đi này đang tạo thêm “đường ra” cho sản vật địa phương, đồng thời mở rộng cơ hội sinh kế, nâng thu nhập và góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa gắn với cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi của tỉnh An Giang.
Bài: Cảnh Hưng - Chung Thắng Ảnh: Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang, HTX Thổ cẩm Văn Giáo, HTX Phụ nữ Cỏ bàng Phú Mỹ Thiết kế: Văn Thắng