[eMagazine] Gỡ “điểm nghẽn” của Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương, khơi thông dòng chảy thị trường
22/07/2026 lúc 15:00 (GMT)

[eMagazine] Gỡ “điểm nghẽn” của Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương, khơi thông dòng chảy thị trường

 

Việc sửa đổi, bổ sung Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương, trong đó tập trung vào rà soát, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định thực hiện phân cấp, phân quyền và tháo gỡ trực tiếp các “điểm nghẽn” trong quá trình trình thực thi pháp luật thời gian qua sẽ góp phần tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của ngành Công Thương, tháo gỡ vướng mắc trên thực tiễn và đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.

Luật Thương mại năm 2005 và Luật Quản lý ngoại thương năm 2017 là hai đạo luật quan trọng, điều chỉnh trực tiếp nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông hàng hóa, xuất nhập khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế. Sau quá trình thi hành, các luật này đã góp phần hình thành khuôn khổ pháp lý cơ bản cho hoạt động thương mại trong nước và hoạt động ngoại thương của Việt Nam.

Tuy nhiên, trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương mới về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, phát triển kinh tế số, hội nhập kinh tế quốc tế và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, điều này đòi hỏi phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để nâng cao khả năng ứng phó, bảo vệ lợi ích quốc gia và hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hiệu quả vào thị trường quốc tế.

Thực hiện Chương trình lập pháp năm 2026, Bộ Công Thương đã và đang chủ trì xây dựng Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Trong đó, đối với lĩnh vực thương mại và ngoại thương, việc sửa đổi Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương tập trung chủ yếu vào nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm thực hiện triệt để chủ trương phân cấp, phân quyền và tháo gỡ trực tiếp các “điểm nghẽn” trong quá trình thực thi pháp luật thời gian qua. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Luật thương mại

Một trong những nội dung đáng chú ý của dự thảo Luật là bổ sung khái niệm "hàng giả" theo hướng thống nhất, bao quát hơn nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong bối cảnh thương mại điện tử và kinh tế số phát triển nhanh.

Theo báo cáo tổng kết thi hành Luật Thương mại của Bộ Công Thương cho thấy, tình trạng sản xuất, buôn bán hàng giả tại Việt Nam đang là thách thức nghiêm trọng đối với nền kinh tế, hoạt động sản xuất trong nước cũng như công tác quản lý nhà nước hiện nay. Không chỉ gây thất thu ngân sách, hàng giả còn làm suy giảm uy tín thương hiệu, ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư kinh doanh.

hàng giả
hàng giả

Ảnh: Lực lượng Quản lý thị trường Hà Nội kiểm tra việc sản xuất, kinh doanh hàng giả.

Số liệu từ các hiệp hội ngành hàng cho thấy mức độ thiệt hại đáng báo động. Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, mỗi năm ngành nông nghiệp thiệt hại tới 2,5 tỷ USD do phân bón giả và kém chất lượng. Trong khi đó, ngành mỹ phẩm mất khoảng 5,4 tỷ USD mỗi năm, còn lĩnh vực công nghệ chịu tổn thất lên tới hơn 100 tỷ USD do hàng giả.

hàng giả

Trong bối cảnh Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài, Bộ Công Thương nhận định việc xây dựng một thị trường nội địa minh bạch, cạnh tranh lành mạnh là yêu cầu cấp bách. Do đó, hoàn thiện khung pháp lý về hàng giả không chỉ là nhiệm vụ quản lý mà còn là điều kiện tiên quyết để bảo vệ môi trường kinh doanh.

Tại Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định rõ ràng, thống nhất về khái niệm “hàng giả” trong Luật Thương mại nhằm tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm, cũng như bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và doanh nghiệp trong bối cảnh thương mại điện tử, kinh tế số phát triển. Đây cũng đồng thời là thông điệp mạnh mẽ về cam kết của Việt Nam trong việc tuân thủ các quy định quốc tế, nâng cao tính minh bạch của thị trường.

Bên cạnh đó, Dự thảo Luật cũng đề xuất sửa đổi quy định liên quan đến độc quyền nhà nước trong hoạt động thương mại. Theo đó, “Nhà nước thực hiện độc quyền Nhà nước về hoạt động thương mại đổi với một số hàng hóa, dịch vụ hoặc địa bàn để đảm bảo lợi ích quốc gia theo quy định của luật chuyên ngành. Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định hàng hoá, dịch vụ, địa bàn thực hiện hoạt động thương mại độc quyền nhà nước”.

Cách tiếp cận này cho thấy yêu cầu làm rõ hơn phạm vi, căn cứ và cơ chế áp dụng độc quyền nhà nước, thay vì chỉ quy định mang tính chung, việc gắn độc quyền nhà nước với luật chuyên ngành sẽ giúp bảo đảm tính minh bạch, thống nhất, đồng thời tránh chồng chéo trong hệ thống pháp luật.

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước vẫn cần các công cụ cần thiết để bảo đảm lợi ích quốc gia, an ninh, quốc phòng và cân đối lớn của nền kinh tế. Tuy nhiên, các công cụ này phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật rõ ràng, có căn cứ vụ thể, phù hợp với yêu cầu bảo đảm quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm.

Do đó, sửa đổi quy định về độc quyền nhà nước không có nghĩa là buông lỏng quản lý, mà là điều chỉnh cách thức quản lý theo hướng rõ thẩm quyền, rõ căn cứ pháp lý và phù hợp hơn với hệ thống pháp luật hiện hành.

Ngoài ra, Dự thảo cũng bãi bỏ nhiều quy định đã được điều chỉnh đầy đủ tại Bộ luật Dân sự, Luật Đầu tư và các luật chuyên ngành nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh trùng lặp, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Cụ thể là: (i) Bãi bỏ các quy định về hợp đồng và giải quyết tranh chấp; (ii) Bãi bỏ quy định về chế tài thương mại; (iii) Bãi bỏ quy định về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; và (iv) Bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.

Việc bãi bỏ, sửa đổi này nhằm bảo đảm tính đồng bộ với Luật Đầu tư, Bộ luật Dân sự, cũng như phù hợp với các chủ trương, định hướng của Đảng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.

Mặc dù vậy, để hoàn thiện được khung pháp lý này, nhiều chuyên gia cũng cho rằng cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các luật liên quan như Luật Cạnh tranh, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và đặc biệt là Luật Quản lý ngoại thương cũng như các quy định về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử.

Luật thương mại

Nếu như Luật Thương mại tập trung hoàn thiện các quy định nền tảng của hoạt động thương mại trong nước thì Luật Quản lý ngoại thương hướng tới đổi mới phương thức quản lý hoạt động xuất nhập khẩu theo hướng phân cấp mạnh hơn, đơn giản hóa thủ tục và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

Trong đó, Dự thảo Luật đã bổ sung khái niệm “các biện pháp quản lý ngoại thương là các biện pháp hành chính, kỹ thuật, kiểm dịch, phòng vệ thương mại, kiểm soát khẩn cấp được quy định tại Luật này và quy định của pháp luật khác có liên quan”.

Đồng thời bổ sung khái niệm “Khu vực hải quan riêng là khu vực địa lý xác định trên lãnh thổ Việt Nam do Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, chính quyền địa phương cấp tỉnh thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; có kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan; có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với phần lãnh thổ còn lại và với nước ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu.”.

Thaco chu lai

Bên cạnh đó, Dự thảo Luật cũng Luật hóa các chủ trương phân cấp, phân quyền từ Trung ương xuống địa phương. Theo đó, phân quyền từ Thủ tướng xuống cho các bộ, cơ quan ngang bộ; phân quyền từ Bộ, cơ quan ngang bộ xuống cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Cụ thể, phân quyền từ Thủ tướng Chính phủ xuống các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong việc quyết định cho phép xuất/nhập khẩu hàng hóa cấm phục vụ mục đích đặc dụng, bảo hành, nghiên cứu; cấp Giấy phép quá cảnh hàng hóa đối với hàng hóa là vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ.

Cùng với đó, chuyển thẩm quyền từ Trung ương về cho UBND cấp tỉnh đối với các thủ tục: (i) cấp Giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) hàng hóa xuất khẩu; cấp văn bản chấp thuận cho nhà xuất khẩu đủ điều kiện tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất khẩu; (ii) cấp phép quá cảnh và gia hạn quá cảnh hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu; hàng hóa cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật; (iii) cấp phép gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài thuộc diện cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu để tiêu thụ ở nước ngoài;  và (iv)  cấp phép xuất khẩu nhập khẩu hàng hóa áp dụng biện pháp tạm ngừng xuất khẩu, tạm ngừng nhập khẩu.

Việc phân quyền này phù hợp với phương châm “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, giúp chính quyền địa phương chủ động hơn trong hỗ trợ hoạt động xuất khẩu, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp khi không phải phụ thuộc vào cơ quan Trung ương, qua đó rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ và giảm chi phí tuân thủ.

Bên cạnh đó, Dự thảo Luật tiếp tục rà soát, bãi bỏ hoặc đơn giản hóa các thủ tục không còn phù hợp tại Luật Quản lý ngoại thương hiện hành để hiện thực hóa Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP ngày 18/5/2026 của Chính phủ về phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Cụ thể, đề xuất bãi bỏ 02 thủ tục hành chính liên quan đến cấp, sửa đổi, bổ sung và cấp lại Giấy phép gia công hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép, phù hợp với chủ trương phân quyền, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính tại Nghị quyết số 66.18/2026/NQ-CP của Chính phủ. Đồng thời, đơn giản hóa 09 thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý xuất khẩu, nhập khẩu, gia công, tạm nhập tái xuất, quá cảnh và cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O), nhằm rút ngắn thời gian, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính.

khơi thông điểm nghẽn

Có thể thấy, việc sửa đổi Luật Thương mại và Luật Quản lý ngoại thương lần này không chỉ xử lý những bất cập phát sinh sau nhiều năm thi hành mà còn thể hiện bước chuyển mạnh trong tư duy quản lý nhà nước: từ quản lý chủ yếu bằng tiền kiểm sang tăng cường phân cấp, phân quyền, nâng cao trách nhiệm của địa phương, cắt giảm thủ tục hành chính và tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng, những sửa đổi này được kỳ vọng sẽ góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực Công Thương.

Nội dung: Huyền My
Trình bày: Hạ Vĩ