(eMagazine] Hoàn thiện pháp luật về EPR: Tháo gỡ điểm nghẽn, kích hoạt thị trường tái chế
20/08/2026 lúc 13:10 (GMT)

(eMagazine] Hoàn thiện pháp luật về EPR: Tháo gỡ điểm nghẽn, kích hoạt thị trường tái chế

Bỏ hình thức đóng góp tài chính trong thực hiện nghĩa vụ tái chế sản phẩm, bao bì; quy định tỷ lệ vật liệu tái chế sử dụng trong sản phẩm, bao bì; thúc đẩy hình thành các Tổ chức thực hiện trách nhiệm nhà sản xuất (PRO) làm trung tâm của hệ thống; tăng cường cơ sở pháp lý cho hoạt động thu gom, tái chế… là những định hướng đang được quan tâm trong quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam. Mục tiêu là tăng trách nhiệm trực tiếp nhưng đồng thời trao quyền chủ động hơn cho doanh nghiệp, tháo gỡ điểm nghẽn trong thực thi và tạo động lực phát triển thị trường tái chế, kinh tế tuần hoàn.

hoanft thiện chính sách pháp luật về EPR
hoàn thiện chính sách pháp luật về EPR

Tại Hội thảo “Định hướng hoàn thiện hệ thống Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam”, đại diện Cục Môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, một trong những định hướng quan trọng của lần sửa đổi này là tăng cường trách nhiệm trực tiếp của nhà sản xuất, nhập khẩu đối với sản phẩm, bao bì sau khi thải bỏ; đồng thời tháo gỡ những điểm nghẽn về chính sách, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động tổ chức thu hồi, tái chế.

Ông Tăng Thế Cường, Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh: “EPR không nên chỉ được nhìn nhận là nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp mà cần trở thành cơ chế tạo động lực thay đổi cách thiết kế sản phẩm, lựa chọn vật liệu, tổ chức thu gom, tái chế và đầu tư vào các giải pháp kinh tế tuần hoàn”.

Theo Cục Môi trường, định hướng hoàn thiện sẽ tập trung vào sự tăng cường vai trò của khu vực tư nhân trong thực hiện EPR, trong khi Nhà nước tập trung vào xây dựng chính sách, khung pháp lý và cơ chế giám sát. Dự thảo Luật cũng đề xuất lộ trình tiến tới bỏ hình thức đóng góp tài chính để hoàn thành trách nhiệm tái chế. Theo đó, nhà sản xuất, nhập khẩu sẽ phải trực tiếp tổ chức thu hồi, tái chế sản phẩm, bao bì sau sử dụng hoặc thực hiện thông qua đơn vị tái chế hay Tổ chức trách nhiệm của nhà sản xuất (PRO).

ông Cường
tháo gỡ điểm nghẽn trong thực thi cơ chế EPR

Nhìn nhận về những nội dung sửa đổi liên quan đến EPR nhiều ý kiến cho rằng không đơn thuần là việc điều chỉnh các văn bản kỹ thuật, Dự thảo lần này đánh dấu bước chuyển mình mang tính bước ngoặt, trực tiếp tháo gỡ những "điểm nghẽn" pháp lý, xóa bỏ tình trạng chồng chéo nghĩa vụ, kiến tạo cơ chế thông thoáng nhằm kích hoạt thị trường tái chế tại Việt Nam. Thay đổi mang tính đột phá nhất của EPR tại Dự thảo phải kể đến là việc bãi bỏ hoàn toàn hình thức đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường. Thay vì cơ chế “đóng tiền để hoàn thành nghĩa vụ”, Dự thảo chuyển dịch mạnh mẽ sang tăng cường trách nhiệm trực tiếp. Cụ thể trong đó doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu được trao quyền chủ động hoàn toàn trong việc tự tổ chức thu hồi, tái chế hoặc linh hoạt lựa chọn các hình thức như thuê đơn vị dịch vụ, ủy quyền qua Tổ chức trung gian (PRO), thậm chí là xuất khẩu để tái chế. Dự thảo cũng công nhận vai trò chính thức của PRO với các quy định rõ ràng về năng lực và trách nhiệm, giúp giảm thiểu đáng kể chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

sản phẩm thân thiện môi trường
"EPR không nên chỉ được nhìn nhận là nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp mà cần trở thành cơ chế tạo động lực thay đổi cách thiết kế sản phẩm, lựa chọn vật liệu, tổ chức thu gom, tái chế và đầu tư vào các giải pháp
kinh tế tuần hoàn”. Ảnh minh họa.

Tinh thần đồng hành cùng doanh nghiệp thể hiện rõ tại Dự thảo qua việc triệt tiêu sự chồng chéo nghĩa vụ tài chính (những sản phẩm, bao bì đã chịu thuế bảo vệ môi trường sẽ được miễn trừ thực hiện trách nhiệm xử lý chất thải); tạo cơ sở pháp lý, chủ động “mở van” cho hạ tầng thu gom bằng việc cho phép các bên tham gia thiết lập điểm thu hồi, tiếp nhận mọi nhãn hiệu, cởi bỏ rào cản quy hoạch đối với các cơ sở tái chế bao bì là chất thải nguy hại…Cùng với đó là những điều chỉnh mang tính thực tiễn như cho phép đồng xử lý bao bì xi măng trong lò nung, lùi lộ trình tái chế phương tiện giao thông đến năm 2030, hay cho phép doanh nghiệp chuyển tiếp khối lượng tái chế chưa đạt sang năm sau… qua đó đã triệt để tháo gỡ những bài toán khó trong thực thi.

Không dừng lại ở việc gỡ khó, chính sách mới được đưa ra tại Dự thảo còn đóng vai trò như một đòn bẩy kinh tế khi đưa ra cơ chế ưu đãi trừ khối lượng bao bì mà doanh nghiệp phải thực hiện trách nhiệm, nếu sử dụng vật liệu tái chế trong nước. Đây được xem là chìa khóa then chốt để khép kín vòng tuần hoàn nguyên liệu. Cùng định hướng lộ trình, tỷ lệ tái chế bắt buộc điều chỉnh theo chu kỳ 3 năm, khung chính sách mới không chỉ giải phóng áp lực cho doanh nghiệp đồng thời đặt nền móng vững chắc cho một ngành công nghiệp tái chế chuyên nghiệp, minh bạch và phát triển bền vững tại Việt Nam.

thúc đẩy tái chế
vật liệu tái chế
nhựa phế liệu
sản phẩm từ nhựa tái chế

Thực tế trên thế giới, triển khai thực hiện EPR là cách tiếp cận chính sách môi trường khá phổ biến, được thực hành ở nhiều quốc gia và được đánh giá là công cụ rất hiệu quả trong quản lý rác thải. Tại Việt Nam từ 15 năm trước tại Quyết định Số: 50/2013/QĐ-TTg (ban hành ngày 09/08/2013) của Thủ tướng Chính phủ, cũng đã có những quy định về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ, tuy nhiên trên nền tảng tự nguyện chỉ đến khi Luật Bảo vệ môi trường 2020 ban hành thì thực thi EPR mới trở quy định thành bắt buộc. Dù đã có những tiếp cận từ khá sớm và đang là quốc gia dẫn dắt Đông Nam Á trong chính sách EPR nhưng thực tế tại Việt Nam, những quy định bắt buộc thực thi EPR vẫn còn khá mới mẻ với nhiều tổ chức, cá nhân. Thực tiễn cũng cho thấy cơ chế này vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và tạo động lực mạnh hơn cho thị trường thu gom, tái chế.

 

Thực tế tại Việt Nam EPR lần đầu tiên được đề cập tại Luật Bảo vệ Môi trường từ năm 2005, với yêu cầu thu hồi một số sản phẩm sau tiêu dùng.

Tiếp đó theo Quyết định 16/2015/QĐ-TTg về thu hồi, xử lý sản phẩm thải bỏ, EPR được áp dụng với 05 nhóm ngành hàng gồm (i) Ắc quy và pin; (ii) Thiết bị điện, điện tử; (iii) Dầu nhớt các loại; (iv) Săm, lốp và (v) Phương tiện giao thông.

Luật Bảo vệ Môi trường 2020 có những điều chỉnh căn bản về chính sách EPR và được quy định trong Điều 54 và Điều 55. Sau đó được cụ thể hóa tại Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ và Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT ngày 10/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Cơ chế EPR tiếp tục được hoàn thiện tại Nghị định số 05/2025/NĐ-CP ngày 6/1/2025 của Chính phủ và Thông tư số 07/2025/TT-BTNMT ngày 28/2/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (quy định rõ các đối tượng thực hiện trách nhiệm, rõ hơn về các giải pháp tái chế, định mức chi phí tái chế…)

Gần đây nhất Chính phủ ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP (ngày 01/4/2026) quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu.

Đánh giá cao các nội dung về EPR tại Dự thảo Nghị định nhiều ý kiến tại Hội thảo “Định hướng hoàn thiện hệ thống Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) tại Việt Nam” cho rằng, những đề xuất cơ chế EPR tại lần sửa đổi này đã tạo ra một khung khá đầy đủ cho việc phát triển ngành công nghiệp tái chế và kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Trong đó các quy định về tỷ lệ vật liệu tái chế trong bao bì và sản phẩm, quy định về thiết kế cho tái chế… được nhìn nhận là chìa khóa mạnh nhất trong việc doanh nghiệp điều chỉnh lại thiết kế, tạo thị trường cho vật liệu tái chế đồng nghĩa thúc đẩy ngành công nghiệp tái chế. Tuy nhiên tính toán tỷ lệ là bao nhiêu là thích hợp, lộ trình như thế nào thì các đại biểu cho rằng vẫn cần thảo luận, cân nhắc kỹ để phù hợp với thực tiễn của Việt Nam, tạo tín hiệu thị trường đồng thời thu hút các doanh nghiệp  đầu tư vào lĩnh vực tái chế từ đó mới giải quyết được căn bản vấn đề sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm thiểu rác thải ra môi trường, qua đó chính sách đi vào cuộc sống khả thi và hiệu quả.

đề xuất cơ chế EPR thúc đẩy tái chế

Đánh giá cao quy định bỏ nghĩa vụ đóng tài chính của doanh nghiệp trong thực hiện EPR mà chuyển sang bắt buộc các doanh nghiệp phải trực tiếp tái chế hoặc lựa chọn các hình thức như thuê đơn vị dịch vụ, ủy quyền qua Tổ chức trung gian, thậm chí là xuất khẩu để tái chế (tại Dự thảo)…tuy nhiên nhiều ý kiến cũng bày tỏ lo ngại về khoảng trống pháp lý khi các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu phải tự đi đàm phán với các nhà tái chế, lúc đó phí tái chế có thể sẽ khó kiểm soát. Theo đó các chuyên gia đề xuất, bên cạnh quy định mức chi phí tái chế (bao gồm chi phí phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế sản phẩm, bao bì và chi phí quản lý hành chính hỗ trợ thực hiện trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất, nhập khẩu, đơn vị tính: đồng/kg) hợp lý, hợp lệ thì cần có quy định đặt ra mức chi phí tối thiểu ( mức sàn) để không làm suy yếu chính sách EPR.

Chia sẻ bên lề sự kiện ông Hoàng Đức Vượng - Phó Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam cho biết, khó khăn lớn hiện nay với doanh nghiệp liên quan đến EPR là các quy định về chứng minh nguồn gốc phế liệu tái chế (sản phẩm, bao bì thu gom được sau thải bỏ), thông qua hóa đơn, chứng từ đối với hệ thống thu gom phi chính thức (thường được gọi là ve chai, đồng nát). Theo ông Vượng, yêu cầu này khó thực hiện trong thực tế bởi phần lớn lực lượng ve chai (cá nhân thu gom, phân loại phế liệu cho tái chế) hoạt động tự phát, khó đáp ứng các thủ tục hành chính, thuế, hóa đơn, chứng từ. Trong khi đó, đây lại là lực lượng chủ lực trong việc thu gom, phân loại sản phẩm, bao bì sau thải bỏ, cung cấp đầu vào cho hoạt động tái chế. Theo đó ông Vượng đề xuất, cần có cơ chế tích hợp hệ thống thu gom phi chính thức vào hệ thống, hưởng lợi từ cơ chế EPR để tăng cường năng lực cho lực lượng này, góp phần hình thành hệ sinh thái EPR từ thu gom đến tái chế. Bên cạnh đó cũng cần có chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân hoặc cho phép doanh nghiệp nộp thuế thay cho các đối tượng này để đảm bảo tuân thủ các thủ tục về thuế, hành chính…

ông Vượng
kinh nghiệm về EPR tái chế

Chia sẻ tại Hội thảo, TS. Fritz Flanderka - Giám đốc Điều hành Reclay Group nhấn mạnh rằng sẽ không có một mô hình EPR phổ quát, bởi mỗi hệ thống phải được thiết kế phù hợp với điều kiện địa phương. Dù nguyên tắc cốt lõi vẫn là chuyển trách nhiệm đối với chất thải sang doanh nghiệp, cách thức tổ chức và triển khai có thể khác biệt đáng kể tùy thuộc điều kiện thể chế, thị trường và năng lực thu gom, tái chế của từng quốc gia. Theo TS. Fritz Flanderka, để xây dựng hệ thống EPR thành công, trước hết Nhà nước cần xác định rõ tầm nhìn về hệ thống quản lý chất thải muốn hướng tới, từ đó xây dựng pháp luật để hiện thực hóa tầm nhìn đó. Pháp luật cũng cần phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, bảo đảm mọi bên liên quan đều phải chịu trách nhiệm giải trình đối với phần việc của mình. Nếu quy định không rõ ràng, hệ thống có thể xuất hiện những kẽ hở khiến doanh nghiệp né tránh trách nhiệm, làm giảm hiệu quả của chính sách.

Từ kinh nghiệm quốc tế và quá trình đồng hành hỗ trợ tại Việt Nam, UNDP khuyến nghị bốn lĩnh vực cần được xem xét trong quá trình tiếp tục hoàn thiện và thực thi EPR. Cụ thể Một là tăng cường vai trò chủ động của doanh nghiệp; Hai là thúc đẩy hình thành các PRO làm trung tâm của hệ thống EPR;  Ba là từng bước nâng cao mục tiêu tái chế theo mức độ sẵn sàng của từng loại vật liệu và điều kiện thực tế; Bốn là đồng thời bảo đảm quá trình chuyển đổi mang tính bao trùm, ghi nhận và tạo điều kiện để lực lượng lao động tự do trong hoạt động thu gom, tái chế tham gia và hưởng lợi.

tái chế

Bài: Hoàng Hà
Thiết kế: Duy Kiên, Hình ảnh có sử dụng AI