[Emagazine] Sản xuất sạch hơn: Hướng phát triển tất yếu của doanh nghiệp
Sản xuất sạch hơn đang dần trở thành một phần của chiến lược phát triển doanh nghiệp, khi yêu cầu giảm phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và nâng cao năng lực cạnh tranh ngày càng gắn chặt với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Từ thực tiễn tại các doanh nghiệp cho thấy, chuyển đổi theo hướng sạch hơn không chỉ đáp ứng yêu cầu môi trường, mà còn mở ra dư địa tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả và tạo lợi thế cạnh tranh trong quá trình tham gia chuỗi cung ứng.

Tại thành phố Đà Nẵng, sản xuất sạch hơn đang được doanh nghiệp triển khai từ những công đoạn cụ thể trong nhà máy, gắn với mục tiêu tiết kiệm tài nguyên, giảm phát thải và nâng cao hiệu quả sản xuất.
Tại Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng (DRC), Khu công nghiệp Liên Chiểu, 100% lò hơi hiện đã chuyển từ nhiên liệu hóa thạch (dầu FO) sang nhiên liệu sinh khối. Cùng với đó, doanh nghiệp đẩy mạnh tái chế phế liệu phát sinh trong quá trình sản xuất.
Bột bào cao su, vải mành phế phẩm, cao su tận thu được nghiên cứu, phân tích tính chất để tái chế thành các sản phẩm như đệm cầu cảng, tấm lợp, tấm chắn bùn, gạch lót vỉa hè...

Theo ông Phan Chí Công - Trưởng phòng Kỹ thuật cơ năng DRC, việc tái sử dụng nội bộ giúp doanh nghiệp tiết kiệm 1,5 tấn vải PE mỗi tháng, tương ứng giảm 15 tấn rác nhựa phát thải. Doanh nghiệp cũng đã thay thế 100% chất xúc tiến MOR bằng hóa chất an toàn hơn, góp phần bảo vệ sức khỏe người lao động và người tiêu dùng.
Không dừng ở việc xử lý chất thải, DRC đang tiếp tục chuyển đổi theo hướng xanh hóa sản phẩm và năng lượng. Doanh nghiệp phát triển các dòng sản phẩm như lốp xe điện DriveFORCE, nghiên cứu đưa cao su và than đen tái sinh vào công thức sản xuất; đồng thời lên kế hoạch lắp đặt hơn 8.800 tấm pin năng lượng mặt trời áp mái, tổng công suất khoảng 6,3 MWp. DRC đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm ít nhất 5% lượng phát thải, tương đương 2.235 tấn CO2e và hướng tới Net Zero vào năm 2050.


DRC đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm ít nhất 5% lượng phát thải, tương đương 2.235 tấn CO2e và hướng tới Net Zero vào năm 2050.
Hay tại Công ty TNHH Nhà máy Bia HEINEKEN Việt Nam tại Đà Nẵng (Khu công nghiệp Hòa Khánh), đơn vị đang sử dụng năng lượng nhiệt cung cấp cho lò hơi từ 100% năng lượng sinh khối (Biomass từ phụ phẩm nông nghiệp như vỏ trấu, mùn cưa, dăm gỗ) thay thế hoàn toàn cho năng lượng hóa thạch (dầu DO). Nguồn năng lượng này được dẫn ống từ một đơn vị cung cấp ngay tại khu công nghiệp, đây là mô hình cộng sinh công nghiệp tiêu biểu tại Khu công nghiệp Hòa Khánh.

Bên cạnh đó, đơn vị cũng thu hồi Biogas từ hệ thống xử lý nước thải để sản xuất hơi nước cấp cho quá trình sản xuất; tận thu nhiệt thừa từ quá trình đun sôi dịch đường để tái cung cấp cho khâu gia nhiệt và thanh trùng. Nước ngưng được thu hồi trên 90%. Ngoài ra, việc áp dụng biến tần 100% cho hệ thống bơm, tối ưu hóa hệ thống nén khí, hệ thống làm lạnh tự động cùng chương trình cải tiến liên tục (TPM) đã giúp tổng năng lượng sử dụng trên đơn vị sản phẩm tại nhà máy năm 2024 giảm 8% so với năm 2023, và năm 2025 tiếp tục giảm thêm 5% so với năm 2024. Nhà máy cũng đã đạt mục tiêu không có rác thải chôn lấp từ năm 2021.
Thực tế này đang được mở rộng tại Đà Nẵng. Trong giai đoạn 2021-2025, Sở Công Thương thành phố đã thực hiện 18 đề án tư vấn đánh giá sản xuất sạch hơn, hỗ trợ xây dựng 11 mô hình thí điểm áp dụng sản xuất sạch hơn với tổng kinh phí hỗ trợ hàng tỷ đồng.

Từ những thay đổi trong từng doanh nghiệp, sản xuất sạch hơn đang từng bước được mở rộng thành cách tiếp cận ở quy mô khu công nghiệp, hướng tới hình thành các khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái.
Với Đồng Nai, địa phương đang đẩy nhanh quá trình chuyển hóa các khu công nghiệp hiện hữu thành khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái, đồng thời định hướng thành lập mới các khu công nghiệp theo hướng sinh thái, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Tại hội thảo “Tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và sản xuất sạch hơn”, tổ chức tháng 6/2026, ông Nguyễn Trọng Tiến - Phó Trưởng ban Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu kinh tế thành phố Đồng Nai cho rằng chuyển đổi khu công nghiệp theo hướng xanh, sinh thái là xu thế tất yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế về môi trường, phát thải carbon và phát triển bền vững.
Theo đó, doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp thực hiện các giải pháp tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sản xuất sạch hơn.
Một trong những mô hình tiêu biểu tại Đồng Nai là Khu công nghiệp Amata. Công ty Cổ phần Đô thị Amata Biên Hòa đang phối hợp với các bên liên quan thúc đẩy quá trình chuyển đổi Khu công nghiệp Amata thành khu công nghiệp sinh thái, đồng thời kêu gọi các doanh nghiệp trong khu công nghiệp cùng thực hiện các giải pháp về sử dụng năng lượng hiệu quả, quản lý tài nguyên, giảm phát thải và cộng sinh công nghiệp.

Trong số hơn 300 khu công nghiệp trên cả nước, Amata là một trong ba khu công nghiệp đầu tiên được lựa chọn thí điểm khu công nghiệp sinh thái. Năm 2024, khu công nghiệp này đạt tỷ lệ hoàn thành 86% các tiêu chí khu công nghiệp sinh thái theo yêu cầu của khung quốc tế.
Đáng chú ý, 60 giải pháp sản xuất sạch hơn được áp dụng tại 18 nhà máy trong Khu công nghiệp Amata đã giúp tiết kiệm 4,36 tỷ đồng mỗi năm, giảm 1,8 triệu kWh điện, 28.000 m3 nước và cắt giảm 1.510 tấn CO2 mỗi năm.
Từ hiệu quả này, Amata được Đồng Nai lựa chọn làm khu công nghiệp tiêu biểu để thực hiện mô hình chuyển đổi thành khu công nghiệp sinh thái, hướng tới nhân rộng tại các khu công nghiệp tiềm năng khác.

Theo Kế hoạch số 79/KH-UBND ngày 9/2/2026 của UBND thành phố Đồng Nai về chuyển hóa các khu công nghiệp hiện hữu thành khu công nghiệp xanh, khu công nghiệp sinh thái đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, giai đoạn 2026-2030, địa phương đặt mục tiêu tối thiểu 2 khu công nghiệp được chứng nhận khu công nghiệp sinh thái; tối thiểu 10% doanh nghiệp trong các khu công nghiệp áp dụng các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn, qua đó tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng, hóa chất, chất thải, phế liệu và giảm phát thải.

Từ những thay đổi trong từng doanh nghiệp và quá trình hình thành các khu công nghiệp sinh thái cho thấy, sản xuất sạch hơn không còn được nhìn nhận đơn thuần là một giải pháp bảo vệ môi trường, mà đang trở thành một yêu cầu trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn về phát thải carbon, ESG và phát triển bền vững ngày càng được áp dụng rộng rãi trên thị trường quốc tế, đây cũng là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp.
Sản xuất sạch hơn giúp doanh nghiệp kiểm soát việc sử dụng nguyên liệu, năng lượng, nước và hóa chất ngay từ đầu vào, đồng thời giảm phát thải ngay tại nguồn. Thay vì tập trung xử lý chất thải ở cuối quy trình, doanh nghiệp hướng đến tối ưu hóa toàn bộ quá trình sản xuất để giảm hao hụt, tiết kiệm tài nguyên và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng. Đây cũng là cách trực tiếp giúp doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất và nâng cao hiệu quả vận hành.

Không dừng ở đó, sản xuất sạch hơn còn tạo nền tảng để doanh nghiệp chuyển sang mô hình kinh tế tuần hoàn. Việc đánh giá các dòng nguyên liệu, năng lượng, nước và chất thải giúp doanh nghiệp nhận diện những phụ phẩm, dòng thải có thể tái sử dụng hoặc trở thành nguyên liệu đầu vào cho đơn vị khác. Từ đó, các mô hình cộng sinh công nghiệp từng bước được hình thành, góp phần kéo dài vòng đời tài nguyên và giảm lượng chất thải phát sinh.
Những chuyển động từ doanh nghiệp đến khu công nghiệp đang được đặt trong định hướng chung của Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021-2030. Trên cơ sở Quyết định số 889/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công Thương đã ban hành Quyết định số 3529/QĐ-BCT, xác định các nhiệm vụ trọng tâm về thúc đẩy sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu quả tài nguyên, phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững.
Đáng chú ý, mục tiêu đến năm 2030 là giảm 7-10% mức tiêu hao nguyên, nhiên vật liệu trong các ngành sản xuất chính như dệt may, thép, nhựa, hóa chất, xi măng, rượu - bia - nước giải khát, giấy, chế biến thủy hải sản và một số ngành sản xuất khác. Chương trình đồng thời hướng tới phổ biến, nhân rộng các mô hình sản xuất sạch hơn, sản xuất và tiêu dùng bền vững, thúc đẩy sử dụng các nguồn nguyên liệu có khả năng tái tạo, tái sử dụng, tái chế và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Các mục tiêu này cho thấy sản xuất sạch hơn đang được đặt trong một định hướng rộng hơn, từ giảm tiêu hao đầu vào đến thay đổi phương thức sản xuất, phát triển sản phẩm và hình thành các mô hình tiêu dùng bền vững. Với doanh nghiệp, đây không chỉ là yêu cầu giảm tác động môi trường mà còn là động lực để đổi mới công nghệ, kiểm soát chi phí và nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Khi những mục tiêu của Chương trình được cụ thể hóa bằng các mô hình sản xuất sạch hơn và được mở rộng sang chuỗi cung ứng, phân phối và tiêu dùng, quá trình chuyển đổi xanh sẽ không còn dừng ở từng giải pháp riêng lẻ. Sản xuất sạch hơn vì thế đang trở thành một phần trong phương thức phát triển mới của doanh nghiệp, trong đó hiệu quả sử dụng tài nguyên, trách nhiệm môi trường và năng lực cạnh tranh ngày càng gắn kết chặt chẽ.
Thực hiện: Hạ Vĩ - Lan Anh

