Thực thi EPR trong ngành đồ uống: Từ áp lực tuân thủ đến động lực xanh hóa
Dù đã tiên phong triển khai Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) với các sáng kiến như tái chế nhôm, sử dụng nhựa tái sinh (rPET) hay giảm trọng lượng bao bì, các doanh nghiệp đồ uống hiện vẫn đối mặt với nhiều "điểm nghẽn" về chi phí, hạ tầng công nghệ và thủ tục pháp lý. Việc sớm gỡ khó sẽ giúp khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào tái chế chất lượng cao, duy trì vòng tuần hoàn vật liệu và phát triển bền vững.
Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR) được quy định rõ trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Đối với bao bì, săm lốp, dầu nhớt, pin và ắc quy, trách nhiệm tái chế bắt buộc bắt đầu được thực hiện từ ngày 1/1/2024. Từ ngày 25/5/2026, Nghị định số 110/2026/NĐ-CP tiếp tục cụ thể hóa trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải. Với đặc thù sử dụng lượng lớn bao bì nhôm, nhựa PET, thủy tinh, giấy và carton, ngành Bia - Rượu - Nước giải khát là một trong những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp, đồng thời cũng sớm hình thành nhiều sáng kiến giảm vật liệu nguyên sinh, tăng tái sử dụng, thu gom và tái chế.


Thực tế cho thấy, bên cạnh trách nhiệm, gánh nặng tài chính, thời gian qua thực thi EPR đồng thời đã trở thành bệ phóng cho nhiều sáng kiến “xanh” mang lại hiệu quả vượt trội, thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn bền vững thực tiễn những chuyển động trong lĩnh vực đồ uống đang là minh chứng rõ nét nhất. Cụ thể từ rất sớm (năm 2019), tại Việt Nam nhiều ông lớn trong ngành đồ uống như Suntory PepsiCo Việt Nam (SPVB), Coca-Cola... đã chung tay đồng sáng lập Liên minh Tái chế Bao bì Việt Nam (PRO Việt Nam) tạo ra một hệ sinh thái thu gom và tái chế bền vững.
Điển hình phải kể đến năm 2022, Suntory PepsiCo Việt Nam, đã ghi dấu ấn lịch sử khi trở thành công ty nước giải khát đầu tiên tại Việt Nam ra mắt sản phẩm Pepsi có bao bì làm từ 100% nhựa tái sinh (rPET). Dự án thí điểm thu gom - tái chế triển khai từ năm 2022, riêng năm 2023 đã giúp doanh nghiệp thu gom và xử lý thành công 1.500 tấn vật liệu, bao gồm PET và các loại bao bì khác đồng thời thúc đẩy hiệu quả thu gom - tái chế thông qua giáo dục…
Cũng từ năm 2022, Coca-Cola tiên phong đưa bao bì nhựa tái chế 100% vào thị trường. Hiện tại, tỷ lệ sử dụng bao bì tái chế của Coca-Cola đã đạt khoảng 20% trên tổng sản lượng bao bì và hướng đến mục tiêu đầy tham vọng là sử dụng 50% nhựa tái chế rPET vào năm 2030.
Heineken Việt Nam đã xuất sắc đạt mục tiêu 0 rác thải chôn lấp tại 5 nhà máy, tuần hoàn thành công 850 tấn lon nhôm trong năm 2024. Riêng với bao bì thủy tinh và keg nhựa phục vụ sản xuất bia, hãng duy trì quy trình quay vòng tái sử dụng triệt để ngay trong nội bộ Nhà máy mức tối đa lần lượt là 98% với chai thủy tinh và 94% với két nhựa đồng thời thực hiện quy định tái chế đạt 20% với thùng các ton và 22% với lon nhôm…

Bên cạnh những mô hình tiên phong, thực tế thực thi EPR trong ngành đồ uống vẫn bộc lộ nhiều khó khăn. Tại Hội thảo “Bao bì tuần hoàn trong bối cảnh hội nhập xanh: Khung pháp lý của Việt Nam và EU, cơ hội và thách thức với ngành bao bì Việt Nam”, diễn ra ngày 5/8/2026 tại Bắc Ninh, bà Chu Thị Vân Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Bia - Rượu - Nước giải khát Việt Nam (VBA), cho biết kết quả khảo sát của Hiệp hội cho thấy khoảng 80% doanh nghiệp được hỏi gặp nhiều khó khăn trong thực hiện EPR.
Báo cáo khảo sát mới nhất của Viện Nghiên cứu đồ uống trực thuộc VBA cho thấy gần như 100% doanh nghiệp trong Ngành đã nắm rõ các quy định liên quan đến EPR (Luật, Nghị định, Thông tư). Hơn 90% doanh nghiệp đã chủ động tham gia các khóa tập huấn do Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng VBA tổ chức. 100% doanh nghiệp đều ủng hộ sự cần thiết của việc tái chế bao bì, sản phẩm để sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Nghiên cứu này cũng cho thấy trong năm 2025 - năm đầu thực thi EPR, phương thức tuân thủ của các doanh nghiệp có sự phân hóa rõ rệt theo quy mô: Khoảng 80% doanh nghiệp lựa chọn đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ Môi trường Việt Nam (VEFP), chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khoảng 20% doanh nghiệp áp dụng giải pháp hỗn hợp (vừa tự tái chế vừa đóng quỹ), trong đó khoảng 15% doanh nghiệp ủy quyền hoàn toàn việc tái chế cho các bên thứ ba.
Dù nhận thức tốt và có nhiều sáng kiến, tuy nhiên khảo sát từ Viện Nghiên cứu đồ uống cho thấy có đến 80% doanh nghiệp đồ uống thừa nhận họ đang đối mặt với vô vàn khó khăn, vướng mắc khi đưa EPR vào thực tiễn hành động. Những rào cản lớn được chỉ ra là, đối với doanh nghiệp chọn nộp tiền vào Quỹ Bảo vệ môi trường hiện là các rào cản liên quan đến nguy cơ rủi ro pháp lý từ môi trường số. Cụ thể tại Khảo sát, các doanh nghiệp bày tỏ sự lo ngại khi toàn bộ hoạt động đăng ký, kê khai và báo cáo đều thực hiện qua môi trường điện tử (Hệ thống thông tin EPR quốc gia) mà thiếu đi sự tương tác, hướng dẫn trực tiếp từ cơ quan chức năng; các doanh nghiệp đồng thời bày tỏ quan ngại về cơ chế quản lý, giám sát chi tiêu của Quỹ BVMT do thiếu các cơ chế minh bạch trong giám sát nguồn tiền; chưa có công cụ để giám sát...minh bạch về việc các bên nhận hỗ trợ từ Quỹ (đơn vị thu gom, tái chế) có thực hiện đúng cam kết, minh bạch và thực sự cải thiện chất lượng môi trường hay không...
Với doanh nghiệp chọn tự tổ chức hoặc ủy quyền tái chế thì gặp phải những khó khăn về gánh nặng chi phí và nhân lực. Cụ thể đại bộ phận các doanh nghiệp này không đủ nguồn lực tài chính để đầu tư xây dựng nhà máy tái chế đạt chuẩn tại Việt Nam, đồng thời cũng không có bộ phận chuyên trách để vận hành các thủ tục EPR... Bên cạnh đó là các nguy cơ liên quan đến rủi ro pháp lý liên đới (với các doanh nghiệp ủy quyền thực hiện nghĩa vụ) vì trên thị trường hiện nay có rất ít đơn vị đủ năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe từ khâu thu gom, vận chuyển cho đến tổ chức tái chế theo đúng quy định pháp luật. Đặc biệt đối với lon nhôm vì hiện năng lực tái chế khép kín từ lon nhôm phế liệu đến nhôm cuộn dùng sản xuất lon mới trong nước còn hạn chế; Các đơn vị thu gom và tái chế thủy tinh (đặc biệt là chai rượu) vô cùng hạn chế, trong khi chi phí vận hành lại bị đẩy lên rất cao…Bên cạnh đó là các điểm nghẽn liên quan đến thiếu cơ chế khuyến khích kinh tế tuần hoàn, bất cập liên quan đến kênh thu gom phi chính thức…


Nghị định 110/2026/NĐ-CP - Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu, ban hành ngày 1/4/2026, có hiệu lực từ 25/5/2026, đã quy định chi tiết trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì (theo Điều 54 Luật Bảo vệ môi trường) và trách nhiệm thu gom, xử lý chất thải (theo Điều 55 Luật Bảo vệ môi trường) của các nhà sản xuất, nhập khẩu.
Theo đó các nhà sản xuất và nhập khẩu bao bì, dầu nhớt, săm lốp, pin, ắc quy...(thuộc đối tượng áp dụng) phải thực hiện nghiêm ngặt các nhóm nghĩa vụ như: phải đảm bảo tỷ lệ tái chế bắt buộc (ví dụ: bao bì nhôm và PET cứng có tỷ lệ bắt buộc 22%; giấy, carton và sắt hoặc kim loại khác là 20%; thủy tinh là 15%) theo đúng quy cách quy định; được chọn tự thực hiện tái chế, ký hợp đồng với đơn vị tái chế, ủy quyền cho tổ chức PRO hoặc đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (Quỹ BVMT). Nếu tự tái chế hoặc thuê ngoài, cơ sở thực hiện bắt buộc phải có Giấy phép môi trường phù hợp và quản lý hồ sơ chứng từ thu gom, tái chế tách biệt hoàn toàn; Phải đảm bảo thời hạn đăng ký, kê khai, báo cáo, thực hiện nghĩa vụ tài chính hằng năm…

Tại thị trường xuất khẩu, Quy định Regulation (EU) 2025/40 on packaging and packaging waste (Quy định PPWR 2025/40) của Liên minh châu Âu đang đồng thời đặt ra nhiều thách thức trong đáp ứng đối với các doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể theo đó, kể từ ngày 1/1/2030, hàng hoá được đưa vào thị trường EU bắt buộc phải có bao bì đáp ứng tỷ lệ hàm lượng nhựa tái chế tối thiểu lên tới 35% (tỷ lệ phụ thuộc loại bao bì nhựa: 30% với bao bì tiếp xúc nhạy cảm làm chủ yếu từ PET, 10% với bao bì tiếp xúc nhạy cảm bằng nhựa khác PET, 30% với chai đồ uống nhựa dùng một lần và 35% với các bao bì nhựa khác…). Đáng chú ý, PPWR yêu cầu việc tuân thủ không dừng lại ở con số tự công bố, mà doanh nghiệp sản xuất hoặc nhập khẩu phải chứng minh rõ ràng trong hồ sơ kỹ thuật về tính tương đương của chất thải thu gom, chất lượng vật liệu tái chế và trình độ công nghệ của các cơ sở tái chế đặt tại nước thứ ba…
Chia sẻ tại hội thảo ngày 5/8/2026, Thạc sĩ Lưu Ngọc Châm, Chuyên gia Môi trường và Kinh tế tuần hoàn (VSD Holdings), cho biết thời gian qua, nhu cầu hạt nhựa tái chế đạt chuẩn thực phẩm đang tăng phi mã để phục vụ xuất khẩu, nhưng ngành tái chế nội địa lại không thể đáp ứng khi vướng phải các rào cản lớn từ nguồn cung nguyên liệu không ổn định, tỷ lệ phân loại rác tại nguồn quá thấp…Hậu quả là doanh nghiệp xuất khẩu phải mua hạt nhựa tái chế nhập khẩu với giá cao, để đáp ứng các yêu cầu xuất khẩu.
Thực tế nhiều chuyên gia cho rằng những thay đổi về pháp lý trong nước và yêu cầu của thị trường xuất khẩu đang buộc doanh nghiệp nhìn lại toàn bộ vòng đời bao bì, từ thiết kế, lựa chọn vật liệu, giảm khối lượng nguyên sinh đến thu gom, tái sử dụng, tái chế và quản trị dữ liệu. Vì vậy, EPR không chỉ là chi phí tuân thủ; nếu được tổ chức tốt, đây còn là động lực để doanh nghiệp tái cấu trúc quy trình sản xuất, đầu tư công nghệ và tăng khả năng cạnh tranh trong chuỗi cung ứng xanh.

Để EPR phát huy hiệu quả, cộng đồng doanh nghiệp cho rằng cơ chế thực thi cần đồng thời bảo đảm mục tiêu môi trường, tính minh bạch và khả năng thực hiện. Trong quá trình góp ý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, VBA đề xuất nghiên cứu cơ chế khuyến khích bao bì sử dụng vật liệu tái chế, trong đó có rPET, thông qua việc xem xét miễn hoặc giảm nghĩa vụ EPR tương ứng với hàm lượng vật liệu tái chế. Hiệp hội cũng kiến nghị có cơ chế phù hợp đối với vật liệu có giá trị tái chế cao nhưng Việt Nam chưa đủ năng lực công nghệ để hoàn thiện toàn bộ chu trình, như lon nhôm.
Một nhóm đề xuất khác tập trung vào việc ghi nhận khối lượng bao bì thu hồi qua hệ thống thu gom phi chính thức khi có cơ chế chứng từ phù hợp; xây dựng lộ trình chuyển đổi với vật liệu khó tái chế; điều chỉnh chính sách dựa trên dữ liệu thực tế về năng lực thu gom, tái chế; và tiếp tục hoàn thiện quy định đối với bao bì mềm đa vật liệu. Cùng với đó là các kiến nghị liên quan đến tái sử dụng nước thải, quản lý phát thải khí nhà kính, thị trường carbon và giấy phép môi trường... cũng được VBA đưa ra trong quá trình góp ý dự thảo Luật.
Từ góc độ dài hạn, điểm mấu chốt không chỉ nằm ở tỷ lệ tái chế bắt buộc mà còn ở chất lượng của hệ sinh thái thu gom - tái chế, khả năng truy xuất dữ liệu và mức độ liên kết giữa nhà sản xuất, tổ chức PRO, đơn vị thu gom... và cơ quan quản lý. Khi dòng vật liệu sau tiêu dùng được minh bạch và quay trở lại sản xuất với chất lượng cao, EPR mới thực sự biến các “áp lực tuân thủ” trong bảo vệ môi trường thành động lực thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, nâng sức cạnh tranh của ngành đồ uống Việt Nam.
Bài: Hoàng Hà - Quang Minh
Ảnh: Hoàng Hà, hình ảnh có sử dụng AI
Thiết kế: Duy Kiên

