Mô hình tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp tại Thanh Hóa: Những tín hiệu mừng

Tác động từ “Mô hình xây dựng thí điểm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp”, đang đổi thay trên từng tấc đất của các chủ thể tham gia dự án. Những người nông dân Thanh Hó
Từ những chủ trương, chính sách thiết thực…
Sau khi nhận được chỉ đạo của Bộ Công Thương và UBND tỉnh Thanh Hóa về triển khai, thực hiện Quyết định 23/2010/TTg ngày 06/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt đề án "Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020", Sở Công Thương Thanh Hóa đã phối hợp với Sở NN&PTNT, Liên minh HTX Việt Nam và UBND các huyện liên quan khảo sát lựa chọn được 2 mô hình: Doanh nghiệp – Hộ kinh doanh tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp tại vùng sản xuất không tập trung (chủ thể là Công ty CP thương mại Thiệu Yên, các hộ kinh doanh và hộ nông dân thuộc mạng lưới của Công ty) và mô hình Doanh nghiệp – HTX tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp tại vùng sản xuất tập trung (chủ thể nòng cốt là HTX-DVNN Phú Lộc – huyện Hậu Lộc). Theo đó, Sở Công Thương đã phối hợp với các chủ thể liên quan, quán triệt chủ trương của Bộ, của tỉnh về thực hiện dự án mô hình thí điểm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị tham gia. Đồng thời, cử các cán bộ chuyên môn thường xuyên hướng dẫn, phối hợp, kiểm tra, nắm bắt ý kiến phản hồi từ các thành phần tham gia, để điều chỉnh phù hợp với thực tế đặt ra.

Thanh Hóa là một trong những tỉnh sản xuất nông nghiệp lớn của cả nước, có tiềm năng để phát triển ngành nông nghiệp toàn diện, diện tích trồng trọt hàng năm đạt trên 450 nghìn ha. Năm 2011, sản lượng lương thực có hạt đạt 1,682 triệu tấn (lớn nhất khu vực Bắc Trung bộ). Nếu những năm trước, diện tích gieo trồng thấp do bà con xã viên không được cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), kỹ thuật sản xuất và lo lắng đầu ra cho sản phẩm nên sản xuất chỉ ở mức cầm chừng. Sau khi thực hiện mô hình thí điểm, xã viên đã thấy được hiệu quả kinh tế ngay từ đầu mùa vụ nên đã chủ động mở rộng diện tích gieo trồng trong vụ đông năm 2011 và vụ xuân 2012.

Sau gần 2 năm triển khai thực hiện dự án, hệ thống chính quyền tỉnh Thanh Hóa, cùng các hộ tham gia sản xuất đều hưởng ứng tích cực, đã và đang tạo ra những tín hiệu mừng trong bức tranh kinh tế nông thôn Thanh Hóa. Trên diện tích sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả, giờ đây đang được “gieo” vào các tiến bộ khoa học kỹ thuật từ chính những đôi bàn tay người nông dân thuần túy. Người được hưởng lợi đầu tiên không ai khác ngoài những hộ nông dân ấy. Cùng với các cán bộ kỹ thuật thường xuyên bán sát ruộng đồng, các hộ nông dân được chuyển giao kỹ thuật từ khi gieo gống, chăm sóc đến khi thu hoạch; hỗ trợ về giống, phân bón, thuốc BVTV… Do đó, nông sản làm ra luôn đạt sản lượng cao, bà con không còn phải lo lắng đầu ra sản phẩm, không sợ tư thương ép giá. Đối với các doanh nghiệp, HTX đã kiểm soát được chất lượng, nguồn gốc sản phẩm. Tăng diện tích gieo trồng, sản lượng nguyên liệu đầu vào, giá thành ổn định. Vì vậy, uy tín của doanh nghiệp, HTX đối với khách hàng ngày càng nâng cao.

…. Đến hiệu quả và những tác động kinh tế - xã hội
Hiện nay, việc triển khai thực hiện thành công dự án ở cả 2 mô hình (tập trung và không tập trung) tại Thanh Hóa đã cho thấy rõ hiệu quả kinh tế - xã hội, làm chuyển biến nhận thức về phương thức sản xuất hàng hóa nông sản mang tính bền vững.

Đối vối mô hình không tập trung, địa bàn là các vùng sản xuất nông nghiệp (lúa, ngô, lạc) chủ lực ở các huyện Yên Định, Vĩnh Lộc, Thiệu Hóa, Cẩm Thủy và Đông Sơn... hình thành hệ thống các hộ kinh doanh hiện đang là đối tác của Công ty CP Thương mại Thiệu Yên. Đến nay, Công ty đã cung ứng 120 nghìn tấn phân bón các loại, thu mua 1.000 tấn nông sản cho các hộ sản xuất kinh doanh.

Đối với mô hình tập trung, chủ thể nòng cốt là HTX-DVNN Phú Lộc đã thu hút hơn 1.500 hộ nông dân tham gia, với diện tích gieo trồng khoảng 120 ha, cung ứng cho xã viên được 50 tấn giống các loại, trị giá 2,7 tỷ đồng và 680 tấn vật tư đầu vào, đạt 6,5 tỷ đồng. Công tác thu mua đạt 1.857 tấn nông sản các loại, trị giá trên 12 tỷ đồng.

Ở cả hai mô hình đã tạo được công ăn việc làm ổn định cho hàng ngàn lao động địa phương, nâng cao thu nhập góp phẩn xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội cho bà con nông dân tại vùng nông thôn. Đồng thời, nâng cao được kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý và thay đổi tập tục canh tác tạo sự gắn kết với đồng ruộng của người nông dân.

HTX-DVNN Phú Lộc là đơn vị điểm của mô hình sản xuất tập trung. Khi chưa có Quyết định 23/TTg của Thủ tướng Chính phủ, công tác tuyên truyền triển khai chủ trương của HTX không được sâu rộng nên nông dân và xã viên chưa tin tưởng. Đặc biệt, các tổ chức thực hiện hợp đồng sản xuất tiêu thụ sản phẩm, cung ứng vật tư giữa HTX với doanh nghiệp đạt hiệu quả thấp. Từ khi tham gia dự án xây dụng mô hình, HTX đã thể hiện rõ vai trò nòng cốt để xây dựng cơ chế phối hợp quan hệ từ sản xuất đến tiêu thụ giữa các thành viên trong chuỗi liên kết và giúp nông dân yên tâm sản xuất, kinh doanh hạch toán được đầu ra của sản phẩm, đầu vào vật tư.

Hiện nay, HTX đã duy trì được 9 khâu dịch vụ kinh doanh có hiệu quả, nhân dân tín nhiệm, thu hút số xã viên tham gia ký hợp đồng ngày càng nhiều. Điển hình là khâu dịch vụ tiêu thụ sản phẩm cho xã viên, HTX đã tích cực tìm kiếm thị trường trong và ngoài tỉnh, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp đúng thời vụ cho xã viên; chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất từng vụ trong năm để triển khai cụ thể đến tận các thôn xóm, trích kinh phí đầu tư và động viên xã viên gieo trồng các loại cây mang giá trị kinh tế cao như: Ngô bao tử, ngô ngọt, khoai tây, sa lát, ớt, rau mầu các loại vào trồng. Trung bình hàng năm, HTX bán ra từ 3.000 – 3.500 tấn phân bón, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu trong dân, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh doanh hiệu quả.

Một xã viên tham gia dự án thuộc HTX-DVNN Phú Lộc hồ hởi cho biết: Khi tham gia dự án, chúng tôi được hỗ trợ đào tạo kiến thức về kỹ thuật thâm canh, kiến thức về pháp luật trong thực hiện hợp đồng, được cung ứng giống cây tốt hơn, phân bón, thuốc BVTV đảm bảo chất lượng, nên sản phẩm làm ra luôn đạt chất lượng cao, chi phí nhân công giảm, giá bán có thể hoạch toán ngay từ đầu vụ. Từ đó, chúng tôi đang chuyển dần từ tập quán kinh doanh nhỏ lẻ sang sản xuất có quy mô và có định hướng theo thị trường.

Sự ra đời của 2 mô hình trên đã khắc phục nhiều khó khăn mà cả doanh nghiệp và nông dân đang gặp phải trong thời gian qua như: Thiếu chủ động trong cung ứng phân bón, giống cây trồng, chất lượng sản phẩm cũng như thị trường đầu ra sản phẩm. .. Ông Hoàng Văn Hùng – Giám đốc Sở Công Thương Thanh Hóa nhận xét: “Khi các chủ thể cùng hộ sản xuất tham gia dự án, do được chăm sóc tốt về giống, phân bón, thuốc BVTV và kỹ thuật canh tác nên năng suất cao hơn so với gieo trồng tự nhiên. Theo khảo sát, một số hộ kinh doanh đều đưa ra nhận định, nếu loại trừ yếu tố thời tiết, thiên tai hoặc mùa vụ thì năng suất bình quân của các loại nông sản sau khi tham gia liên kết tăng từ 3 – 6%, đồng thời chất lượng sản phẩm cũng đảm bảo hơn. Nhờ đó, giá bán của cả nông dân và các doanh nghiệp có thể điều chỉnh tăng từ 2 – 5% đem lại giá trị thu nhập cao. Công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện tốt hơn, đúng thời vụ (đối với mô hình sản xuất tập trung tiêu thụ đạt 100%). Mặt khác, do sản phẩm có chất lượng và ổn định đầu vào nên doanh nghiệp đã chủ động nâng giá bán lên 2%, với đối tác xuất khẩu mà vẫn được chấp nhận”.

Những tín hiệu mừng trên các cánh đồng ở Thanh Hóa đã cho thấy chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước là đúng đắn, thiết thực tới đời sống nông dân ở nông thôn. Tuy nhiên, đây là kế hoạch “dài hơi” của Chính phủ, cần sự vào cuộc, đồng thuận của các cấp chính quyền và toàn thể nhân dân. Thanh Hóa là địa phương bước đầu thực hiện dự án còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng như: Quy định của pháp luật và cơ chế chính sách liên quan đến tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp chưa cụ thể, rõ ràng. Bản thân Thanh Hóa, chưa khai thác hết diện tích đất nông nghiệp, chưa có quy hoạch vùng sản xuất tập trung; cơ sở vật chất của HTX, hộ kinh doanh còn nghèo nàn chưa có kho chứa vật tư chuyên dùng, thiếu vốn đầu tư một số công trình hạ tầng phục vụ sản xuất, mở rộng diện tích và cơ giới hóa. Do đó, các tỉnh đang tham gia dự án nói chung, Thanh Hóa nói riêng rất cần sự quan tâm hơn nữa, hỗ trợ từ phía Chính phủ, các Bộ nhanh chóng ban hành cơ chế chính sách, các chế tài nhằm tạo hành lang pháp lý để xử lý vi phạm hợp đồng theo Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, Bộ Công Thương tăng cường công tác xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu hàng nông sản tiếp cận thị trường quốc tế. Bổ sung nguồn khuyến công hàng năm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ và đào tạo cán bộ kỹ thuật trong sản xuất nông sản.