Tóm tắt:
An ninh nguồn nước là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc gia và đời sống hàng ngày của con người, đồng thời là thách thức lớn của nhân loại, Việt Nam cũng nằm trong số các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề này. Để bảo đảm phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế và lợi ích xã hội, việc hoàn thiện công cụ quản lý của Nhà nước bằng pháp luật là điều cần thiết. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề pháp lý về về an ninh nguồn nước và kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
Từ khóa: an ninh nguồn nước, Luật Tài nguyên nước, bảo vệ môi trường.
1. Đặt vấn đề
Nhiều năm qua, Việt Nam đã phải đối mặt với thách thức nghiêm trọng về an ninh nguồn nước do ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: biến đổi khí hậu, gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, hệ thống pháp luật còn một số điểm nghẽn... Tuy vậy, nhu cầu sử dụng nước hàng năm ở nước ta lại có xu hướng tăng lên đáng kể, có thể lên tới khoảng 122,5 tỷ mét khối vào năm 2030 và 131,7 tỷ mét khối vào năm 2050 [1], trong khi khoảng 60% lượng nước của đất nước bắt nguồn từ nước ngoài. Điều đó có nguy cơ dẫn đến tình trạng cạnh tranh sử dụng nước theo xu hướng ngày càng gay gắt. Mặc dù Nhà nước đã ban hành một hệ thống các quy định pháp luật tương đối đầy đủ và toàn diện để kiểm soát vấn đề này nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế, kết quả đạt được chưa như mong đợi. Vì vậy, việc nghiên cứu, chỉ ra một số điểm nghẽn pháp lý và đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo đảm an ninh nguồn nước là điều cần thiết.
2. Một số vấn đề pháp lý về an ninh nguồn nước tại Việt Nam
2.1. Khái quát chung pháp luật về an ninh nguồn nước tại Việt Nam
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp và áp lực từ quá trình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh nguồn nước đã trở thành một vấn đề mang tính cốt lõi, chiến lược trong hệ thống an ninh quốc gia. An ninh nguồn nước là sự bảo đảm về số lượng và chất lượng nước phục vụ dân sinh trong mọi tình huống, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường và giảm thiểu rủi ro, tác hại từ các thảm họa do con người và thiên nhiên gây ra liên quan đến nước. An ninh nguồn nước là thành tố cốt lõi của an ninh phi truyền thống, bên cạnh an ninh năng lượng và an ninh lương thực.
Việt Nam có đặc thù là một quốc gia hạ nguồn có hơn 60% lưu lượng nước được sản sinh từ lãnh thổ nước ngoài, điều đó đặt nước ta vào thế bị động trước các hoạt động khai thác ở phía thượng nguồn. Do vậy, nước ta gặp khó khăn trong việc chủ động quản lý, khai thác nguồn nước như tổng lượng dòng chảy, chế độ dòng chảy, nguồn phù sa….[2] Không những thế, an ninh nguồn nước ở Việt Nam còn ảnh hưởng bởi sự phân bổ nguồn nước không đồng đều về không gian và thời gian. Việt Nam là một trong những quốc gia có lượng mưa lớn nhất thế giới nhưng do phân bổ theo mùa trong khi các hồ chứa thủy điện và hồ chứa thượng nguồn chỉ có thể kiểm soát được 20% tổng lượng nước chảy vào Việt Nam nên xảy ra tình trạng mưa nhiều mà vẫn thiếu nước[3]. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu gây nước biển dâng, rừng ngập mặn đầu nguồn suy giảm đáng kể cũng gây ra những tác động cực đoan cho an ninh nguồn nước. Nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng cùng với tốc độ đô thị hóa, hiện đại hóa, dân số tăng nhanh cũng làm gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên nước, gia tăng tình trạng ô nhiễm nguồn nước.
Như vậy, an ninh nguồn nước ở Việt Nam là vấn đề đáng được quan tâm và nghiên cứu, đặc biệt là khung pháp lý để đảm bảo an ninh nguồn nước trên thực tế, đảm bảo đủ nước cho sinh hoạt và sản xuất, ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các nguồn nước liên quốc gia.
2.2. Pháp luật Việt Nam về cơ chế quản trị, kiểm soát an ninh nguồn nước
Pháp luật hiện hành của Việt Nam về quản trị an ninh nguồn nước đã có những bước tiến quan trọng về cơ chế quản trị và kiểm soát an ninh nguồn nước. Điều hòa, phân phối tài nguyên nước là một trong những điểm mới, cốt lõi trong việc quản lý, sử dụng, bảo vệ các nguồn nước hiệu quả, đảm bảo an ninh nguồn nước. Pháp luật đã thiết lập các công cụ quản trị quan trọng như dòng chảy tối thiểu trên sông, ngưỡng khai thác nước dưới đất. Đồng thời bổ sung thêm các quy định về ưu tiên đầu tư phát triển, tích trữ nước, quy định rõ nội dung về quy hoạch tổng hợp lưu vực sông để giải quyết hiệu quả các vấn đề cụ thể của từng lưu vực sông xảy ra ở tiểu lưu vực đang gặp phải như hạn hán lũ lụt… Để đảm bảo quản lý, kiểm soát việc khai thác, sử dụng nước một cách hiệu quả, pháp luật đã quy định các nội dung về quan trắc, giám sát tài nguyên nước và trách nhiệm giám sát hoạt động khai thác, sử dụng nước, kết nối dữ liệu giám sát của tổ chức, cá nhân khai thác sử dụng nước theo hướng tự động liên tục hoặc định kỳ. Cơ chế quản trị đã được xây dựng theo hướng tăng cường vai trò điều phối của Nhà nước, đồng thời yêu cầu phối hợp giữa các bộ, ngành, chính quyền địa phương và các chủ thể khai thác, sử dụng nước. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp luật hiện hành vẫn còn những hạn chế nhất định, thể hiện ở việc phân bổ quyền hạn, trách nhiệm giữa các chủ thể quản trị chưa thật sự rõ ràng dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.
2.3. Pháp luật Việt Nam về công cụ kinh tế trong kiểm soát an ninh nguồn nước
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển ở nước ta hiện nay, tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. Bởi việc tác động trực tiếp vào lợi ích kinh tế của các chủ thể có liên quan như người sử dụng, người gây ô nhiễm, các quy định này sẽ định hướng hành vi của họ theo hướng có lợi cho an ninh nguồn nước. Pháp luật Việt Nam đã chuyển dần từ quản lý bằng công cụ hành chính sang quản lý bằng công cụ kinh tế. Luật Tài nguyên nước 2023 là một bước tiến quan trọng nhằm khẳng định vai trò của công cụ kinh tế trong việc đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia.
Các công cụ kinh tế đã được cụ thể hóa trong Chương 6 Luật Tài nguyên nước 2023. Điều 67 quy định các nguồn thu ngân sách nhà nước từ hoạt động tài nguyên nước bao gồm: Thuế tài nguyên và các khoản thuế khác theo quy định của pháp luật; Các loại phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí; Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước; Tiền bồi thường thiệt hại cho Nhà nước, tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước theo quy định của pháp luật.
Trong hệ thống các công cụ kinh tế nêu trên, thuế và phí tài nguyên nước tác động trực tiếp vào cả hai đầu của chu trình sử dụng nước: khai thác tài nguyên nước (đầu vào) và xả thải (đầu ra). Về thuế tài nguyên nước, được điều chỉnh chủ yếu bởi Luật Thuế tài nguyên năm 2009 và Luật Tài nguyên nước 2023, thuế tài nguyên đánh trực tiếp vào hành vi khai thác nước mặt và nước dưới đất theo nguyên tắc “người sử dụng phải trả tiền”. Phí tài nguyên nước bao gồm phí khai thác sử dụng nguồn nước theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí; phí, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải áp dụng đối với hoạt động xả thải ra môi trường theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và pháp luật về bảo vệ môi trường. Nếu thuế kiểm soát số lượng thì phí bảo vệ môi trường là công cụ bảo đảm an ninh chất lượng nước. Căn cứ vào Luật Bảo vệ môi trường 2020 và chi tiết ở nghị định 53/2023/NĐ-CP quy định về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, phí nước thải được tính dựa trên tổng lượng chất gây ô nhiễm có trong nước thải. Đây là sự hiện thực hóa nguyên tắc “người gây ô nhiễm trả tiền”, công cụ này thúc đẩy các cơ sở sản xuất quan tâm đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải đạt chuẩn thay vì xả thải trực tiếp ra môi trường.
Nếu thuế tài nguyên đánh vào hành vi khai thác thì tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước lại đánh vào giá trị của quyền được tiếp cận và sử dụng một tài sản công có hạn. Tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước không chỉ là một khoản thu ngân sách nhà nước mà còn là công cụ pháp lý quan trọng thể hiện vai trò đại diện chủ sở hữu của Nhà nước đối với tài nguyên nước, Hiến pháp 2013 đã quy định tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (điều 53).
Khoản 1 Điều 69 Luật tài nguyên nước quy định tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước thuộc các trường hợp phải cấp phép khai thác nước mặt, nước dưới đất phải nộp tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước trong 2 trường hợp: khai thác nước mắt để phát điện có mục đích thương mại; khai thác nước mặt, nước dưới đất để phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, nuôi trồng thủy sản, cấp cho nông nghiệp, cấp cho sinh hoạt. Điểm khác biệt của Luật tài nguyên nước 2023 là việc xác định tiền cấp quyền dựa trên các tiêu chí cụ thể tại Khoản 5 Điều 69 gồm lượng nước, chất lượng của nguồn nước, loại nguồn nước, điều kiện khai thác, quy mô, thời gian khai thác, mục đích sử dụng nước. Việc áp dụng công cụ này giúp cơ quan quản lý kiểm soát được ngưỡng khai thác an toàn, ngăn chặn tình trạng khai thác tràn lan gây suy thóai. Đồng thời, đây là nguồn thu để tái đầu tư cho các hoạt động liên quan đến bảo vệ và phục hồi tài nguyên nước.
Luật Tài nguyên nước cũng có các quy định về ưu đãi thuế cho các dự án tuần hoàn nước, tái sử dụng nước thải hoặc đầu tư công nghệ tiết kiệm nước. Quyền khai thác tài nguyên nước còn được xem như một “quyền tài sản”, có thể chuyển nhượng khi bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đáp ứng đủ các tiêu chí pháp luật quy định. Việc chuyển nhượng này phải được lập thành Hợp đồng chuyển nhượng theo quy định của pháp luật dân sự. Đây là điểm nổi bật để làm rõ mục tiêu kinh tế hóa tài nguyên nước, thúc đẩy việc chuyển nhượng các dự án đầu tư diễn ra thuận lợi, minh bạch hơn.
2.4. Pháp luật Việt Nam về chế tài trong bảo đảm an ninh nguồn nước
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, các chế tài đảm bảo an ninh nguồn nước đóng vai trò là công cụ cưỡng chế then chốt nhằm răn đe, ngăn chặn và khắc phục các hành vi xâm hại đến tài nguyên nước quốc gia. Về chế tài hành chính, theo Nghị định 290/2025/NĐ-CP, mức phạt tối đa cho một hành vi vi phạm là 250 triệu đồng đối với cá nhân và 500 triệu đồng đối với tổ chức, đi kèm với các hành vi phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm. Về chế tài hình sự, đối với các hành vi cố ý hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đến an ninh nguồn nước, Bộ luật Hình sự 2015 có quy định các tội danh cụ thể với hành phạt tù hoặc phạt tiền lên tới hàng tỷ đồng. Bên cạnh đó, ngoài việc nộp phạt, chủ thể vi phạm còn phải chịu trách nhiệm bồi thường dân sự và khắc phục hậu quả. Như vậy, pháp luật Việt Nam về chế tài trong bảo đảm an ninh nguồn nước đã đặt ra nền tảng pháp lý cần thiết, song vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường răn đe, khả năng áp dụng và hiệu quả thực thi nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh nguồn nước trong bối cảnh áp lực phát triển và biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng.
2.5. Pháp luật Việt Nam về thông tin tài nguyên nước quốc gia
Hiện nay, Việt Nam đã ban hành các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề bảo đảm xây dựng và thực thi hệ thống thông tin về nguồn nước quốc gia mang tính toàn diện, đồng bộ, hiện đại, minh bạch… Luật Bảo vệ môi trường hiện hành quy định điều kiện về hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu môi trường nói chung. Kế tục và phát triển tinh thần đó, Luật Tài nguyên nước hiện hành cùng Nghị định 53/2024/NĐ-CP của chính phủ đã cụ thể hóa nội dung thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia và quy định trách nhiệm đảm bảo thực hiện thuộc về Bộ Nông nghiệp và Môi trường[4]. Về mặt ưu điểm, pháp luật hiện hành đã xây dựng một khung pháp lý tương đối đầy đủ và toàn diện về thông tin nguồn nước quốc gia, đảm bảo yêu cầu quản lý xã hội và xu hướng hội nhập quốc tế.
Tuy vậy, một số tồn tại pháp lý đặt ra như: hệ thống thông tin nước quốc gia được thực hiện nhưng chưa tuân theo một lộ trình cụ thể[5]; tính liên kết, đa dạng, hệ thống và phổ quát của nó còn nhiều nghi ngại khi các địa phương chưa thực sự đảm bảo quản lý sâu sát về nguồn nước trong chính địa phương của mình để góp phần xây dựng hệ thống dữ liệu chung; sự ràng buộc giữa các chủ thể cùng những chế tài đảm bảo thực hiện còn hạn chế. Nói đúng hơn, pháp luật đang “khuyến khích” tạo dựng hệ thống thông tin chung mà chưa quy định chế tài đảm bảo thực hiện hiệu quả. Bởi vậy, mặc dù các nội dung liên quan đến hệ thống thông tin tài nguyên nước quốc gia đã được pháp luật quy định nhưng còn mang nặng hình thức, chưa có cơ chế và quy định cụ thể mang tính lộ trình đảm bảo thực hiện.
3. Một số kiến nghị đề xuất
Thứ nhất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cơ chế quản trị an ninh nguồn nước
Để nâng cao hiệu quả quản trị an ninh nguồn nước, pháp luật Việt Nam cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tăng cường tích hợp, minh bạch và hiệu lực thực thi. Trước hết, cần củng cố cơ chế điều phối liên ngành, liên vùng trong quản trị nguồn nước, đặc biệt ở các lưu vực sông liên tỉnh và xuyên biên giới, thông qua việc làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể có trách nhiệm quản lý, hạn chế tình trạng chồng chéo, phân tán trong thực thi pháp luật. Ngoài ra, pháp luật cần tăng cường cơ chế bảo đảm sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội trong quá trình lập quy hoạch, phân bổ và giám sát việc sử dụng nguồn nước. Đồng thời, cần gắn kết chặt chẽ quản trị an ninh nguồn nước với các chính sách bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực thực thi pháp luật ở cấp địa phương thông qua tăng cường nguồn lực, đào tạo chuyên môn và kết hợp các công cụ công nghệ, kỹ thuật.
Thứ hai, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cơ chế định giá nước
Định giá tài nguyên nước trong thực tế cũng gặp phải những thách thức khi làm sao để tính đúng, tính đủ giá trị của nước? Nếu tính không đủ, số tiền bỏ ra quá ít thì không đủ sức răn đe; nếu quá cao sẽ gây áp lực lạm phát và chi phí sinh hoạt cho người dân. Kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng bộ tiêu chí định giá nước một cách toàn diện, không chỉ dựa trên khối lượng nước mà có thể dựa vào giá trị sinh thái và độ khan hiếm của nước.
Thứ ba, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài trong bảo đảm an ninh nguồn nước.
Để nâng cao hiệu quả của hệ thống chế tài trong bảo đảm an ninh nguồn nước, pháp luật Việt Nam cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tăng cường tính răn đe, khả thi và gắn kết chặt chẽ giữa xử phạt và khắc phục hậu quả. Trước hết, cần rà soát và điều chỉnh mức xử phạt hành chính đối với các hành vi xâm hại nghiêm trọng đến nguồn nước theo hướng tương xứng với mức độ nguy hiểm và lợi ích kinh tế thu được từ hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế xác định, định lượng thiệt hại đối với tài nguyên nước làm cơ sở cho việc áp dụng trách nhiệm bồi thường và phục hồi nguồn nước bị suy thóai. Ngoài ra, pháp luật cần tăng cường các công cụ giám sát, phát hiện vi phạm, kết hợp giữa thanh tra truyền thống và ứng dụng công nghệ quan trắc, số hóa dữ liệu tài nguyên nước, nhằm bảo đảm việc áp dụng chế tài được kịp thời và hiệu quả, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực bảo đảm an ninh nguồn nước trong dài hạn.
Thứ tư, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hệ thống thông tin tài nguyên nước quốc gia
Từ thực tiễn quy định pháp luật nêu trên cho thấy, pháp luật cần xây dựng một lộ trình cụ thể về việc hoàn thiện hệ thống thông tin trên thực tế, đồng thời phân cấp trách nhiệm rõ ràng giữa vai trò thực hiện của địa phương và trung ương, hướng tới mục đích hoàn thiện hệ thống chung trên cả nước. Bên cạnh những yếu tố liên quan đến kỹ thuật, công nghệ, pháp luật cần có giải pháp mang tính thúc đẩy các chủ thể tham gia thay vì cơ chế mang tính khuyến khích thực hiện, đồng thời quy định nghiêm khắc chế tài xử lý đối với các hành vi và các chủ thể gây phương hại và cản trở tới quá trình hoàn thiện hệ thống thông tin tài nguyên nước quốc gia.
4. Kết luận
Việc bảo đảm an ninh nguồn nước là một trong những cấu thành quan trọng góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, có mối liên hệ mật thiết và biện chứng với những lĩnh vực an ninh, an toàn trật tự xã hội khác. Hệ thống các quy định pháp luật về an ninh nguồn nước ở Việt Nam mặc dù đã tương đối toàn diện và chặt chẽ, nhưng đứng trước những tác động mang tính lịch sử và thời đại, với những nguyên nhân khách quan và chủ quan không tránh khỏi những hạn chế và thách thức. Do vậy, yêu cầu hoàn thiện pháp luật nói chung luôn được đặt ra như một nhiệm vụ cấp thiết mang tính nền tảng cho việc thực hiện pháp luật trở nên hiệu quả, hướng tới phục vụ nhu cầu ngày càng cao của người dân, đáp ứng sự phát triển bền vững của xã hội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN:
[1] Việt Nam News (2025), Water security concerns grow amid rising pressures, https://vietnamnews.vn/environment/1725432/water-security-concerns-grow-amid-rising-pressures.html
[2] Minh Minh (2024), Luật Tài nguyên nước năm 2023 - Bước tiến lớn về tư duy, cách tiếp cận và phương thức quản trị tài nguyên nước, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, truy cập tại https://danchuphapluat.vn/luat-tai-nguyen-nuoc-nam-2023-buoc-tien-lon-ve-tu-duy-cach-tiep-can-va-phuong-thuc-quan-tri-tai-nguyen-nuoc-3166.html
[3] Lam Trinh (2024), An ninh nguồn nước tại Việt Nam: Thực trạng và những thách thức lớn phải đối mặt (Bài 2), Tạp chí Môi trường và cuộc sống, truy cập tại https://moitruong.net.vn/an-ninh-nguon-nuoc-tai-viet-nam-thuc-trang-va-nhung-thach-thuc-lon-phai-doi-mat-bai-2-73573.html
[4] Điều 7, Luật Tài nguyên nước
[5] Diệp Trương (2023), Làm rõ lộ trình hoàn thành hệ thống dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, Trang thông tin Đối ngoại, truy cập tại https://ttdn.vn/tin-tuc-su-kien/chinh-sach-phap-luat/lam-ro-lo-trinh-hoan-thanh-he-thong-du-lieu-tai-nguyen-nuoc-quoc-gia-89646#:~:text=%C4%90%E1%BB%83%20gi%E1%BA%A3i%20quy%E1%BA%BFt%20t%C3%ACnh%20tr%E1%BA%A1ng,%C4%91%E1%BB%83%20khai%20th%C3%A1c%2C%20s%E1%BB%AD%20d%E1%BB%A5ng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Quốc hội (2025), Văn bản hợp nhất 11/VBHN-VPHN năm 2025 Bộ luật Hình sự.
- Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường, số 72/2020/QH14.
- Quốc hội (2023), Luật Tài nguyên nước, số 28/2023/QH15.
- Chính phủ (2024), Nghị định số 53/2024/NĐ-CP, ngày 16/5/ 2024 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tài nguyên nước.
- Chính phủ (2025), Nghị định số 290/2025/NĐ-CP Hà Nội ngày 06/11/2025 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước.
- Diệp Trương (2023), Làm rõ lộ trình hoàn thành hệ thống dữ liệu tài nguyên nước quốc gia, Trang thông tin Đối ngoại, truy cập tại https://ttdn.vn/tin-tuc-su-kien/chinh-sach-phap-luat/lam-ro-lo-trinh-hoan-thanh-he-thong-du-lieu-tai-nguyen-nuoc-quoc-gia-89646#:~:text=%C4%90%E1%BB%83%20gi%E1%BA%A3i%20quy%E1%BA%BFt%20t%C3%ACnh%20tr%E1%BA%A1ng,%C4%91%E1%BB%83%20khai%20th%C3%A1c%2C%20s%E1%BB%AD%20d%E1%BB%A5ng
- Minh Minh (2024), Luật Tài nguyên nước năm 2023 - Bước tiến lớn về tư duy, cách tiếp cận và phương thức quản trị tài nguyên nước, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, ngày 11/01/2024, truy cập tại https://danchuphapluat.vn/luat-tai-nguyen-nuoc-nam-2023-buoc-tien-lon-ve-tu-duy-cach-tiep-can-va-phuong-thuc-quan-tri-tai-nguyen-nuoc-3166.html
- World Bank (2019), Việt Nam: Hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn, truy cập tại https://documents1.worldbank.org/curated/en/379891559574711837/pdf/Vietnam-Toward-a-Safe-Clean-and-Resilient-Water-System.pdf
- Việt Nam News (2025), Water security concerns grow amid rising pressures, https://vietnamnews.vn/environment/1725432/water-security-concerns-grow-amid-rising-pressures.html
Legal issues concerning water security in Vietnam and directions for legal improvement
Nguyen Tien Manh1
Nguyen Thi Yen Nhi1
Hoang Thi Thu Huyen1
1Students, Faculty of Economic Law, Hanoi Law University
Abstract:
Water security is a critical factor directly affecting national security and human well-being, while also representing a major global challenge. Vietnam is among the countries currently facing increasing pressures on water security. To ensure sustainable development and maintain a harmonious balance between economic growth and social interests, it is essential to strengthen state management instruments, particularly through the legal system. This study examines key legal issues related to water security and analyzes the existing regulatory framework in Vietnam, thereby contributing to a clearer understanding of the role of law in safeguarding water security and supporting sustainable development.
Keywords: water security, Law on Water Resources, environmental protection.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 1 năm 2026]
