Nâng cao năng lực cạnh tranh:Cho doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế

Nền kinh tế thế giới đang vận hành theo mô hình chuỗi giá trị toàn cầu, nghĩa là mỗi quốc gia trở thành một “mắt xích” trong việc chế tạo ra các bộ phận hợp thành một sản phẩm hàng hoá hoàn chỉnh để c

Thực tế và những vấn đề đặt ra 

Được các đối tác công nhận đã hội nhập thành công sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), nhưng nhiều DN vẫn chưa hiểu rõ thông tin liên quan đến các hiệp định, cam kết cụ thể của Việt Nam về các lĩnh vực và ngành hàng. Cuộc điều tra “Cộng đồng doanh nghiệp về các vấn đề hội nhập” của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) sau hơn 4 năm gia nhập WTO ở 3.550 doanh nghiệp tại 63 tỉnh, thành cho thấy: 75% số doanh nghiệp cho rằng hội nhập có tác động tích cực, hơn 21% doanh nghiệp vẫn chưa thấy hội nhập ảnh hưởng đến hoạt động của mình, chỉ hơn 1% doanh nghiệp cảm nhận những tác động xấu của hội nhập. 

Đánh giá về lợi thế của DN trong hội nhập, 44% doanh nghiệp cho rằng, họ duy trì lợi thế trên thị trường nhờ yếu tố giá thành sản phẩm, 40% doanh nghiệp có lợi thế về tìm kiếm thị trường và 1/3 số doanh nghiệp khảo sát có lợi thế về sản phẩm độc đáo, mới lạ. Bên cạnh những lợi thế, các doanh nghiệp cũng đưa ra rất nhiều khó khăn trong quá trình hội nhập. Khó khăn lớn nhất được 26% doanh nghiệp đồng tình là sự thiếu thông tin về thị trường. Trở ngại lớn thứ hai là khả năng tiếp cận với nguồn vốn và công nghệ, với 25% số doanh nghiệp khảo sát gặp phải. Cũng có gần 25% doanh nghiệp cho biết, trở ngại mà họ gặp phải trong quá trình hội nhập là sự yếu kém trong ứng dụng thương mại điện tử và công nghệ thông tin. Ngoài những khó khăn trên, có hơn 50% số doanh nghiệp cho rằng, rào cản lớn nhất cho hàng hóa trong nước khi bước ra thị trường thế giới là mức lạm phát trong nước quá cao, sự bất ổn định của giá cả các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, áp lực cạnh tranh từ các đối thủ trên thị trường quốc tế cũng là một trở ngại. Trong khi đó, việc quảng bá thương hiệu, thiết kế mẫu mã còn non yếu và chỉ có 25% các doanh nghiệp gặp khó khăn do các rào cản phi thuế quan, tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của nước nhập khẩu. Sự không tương thích của các quy định kiểm toán, kế toán của Việt Nam so với chuẩn mực quốc tế cũng là một khó khăn đối với quá trình hội nhập của doanh nghiệp. Gia nhập WTO được gần 5 năm, nhưng Bộ chuẩn Kiểm toán Việt Nam rất lạc hậu so với thế giới, vì vậy, doanh nghiệp khó có thể đưa ra những báo cáo phù hợp với tiêu chuẩn kiểm toán quốc tế, cũng như chưa tận dụng triệt để các cơ hội từ hội nhập kinh tế quốc tế… 

Một số chuyên gia tư vấn chiến lược quốc tế nhận định, các doanh nghiệp, tập đoàn của Việt Nam còn một số hạn chế, như: không xem trọng định hướng phát triển, hệ thống quy chuẩn, đào tạo là nhiệm vụ quan trọng... Nếu các DN Việt Nam chưa thay đổi được những điều này thì đừng nghĩ đến việc ra nước ngoài cạnh tranh với các tập đoàn quốc tế. Vì môi trường kinh doanh, văn hóa, chính sách… ở nước ngoài đều rất khác ở Việt Nam, nếu không thay đổi để thích ứng thì rất khó cạnh tranh. 

Sức ép cạnh tranh trên thương trường tới từng chủ thể kinh doanh trong giai đoạn tới sẽ gia tăng mạnh mẽ. Các hãng danh tiếng có nhiều tiềm lực trong cạnh tranh sẽ xuất hiện nhiều ở Việt Nam; người Việt Nam ở nước ngoài sẽ quay về quê hương làm ăn; các công ty cổ phần sẽ xuất hiện ngày càng nhiều. Nếu tính thêm tác động của chính sách mở cửa trong quan hệ đối ngoại, sự đẩy mạnh hoạt động mậu dịch biên giới... sẽ làm cho cường độ cạnh tranh quốc tế ngay trên đất nước Việt Nam sẽ gia tăng nhanh so với những năm trước đây. Đó là tín hiệu đáng mừng, nhưng đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả ở tầm chính sách vĩ mô, lẫn tác nghiệp và chiến lược kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. 

Đề xuất một số giải pháp cho thời gian tới 

Nâng cao khả năng cạnh tranh trên cả 3 cấp độ: sản phẩm - doanh nghiệp - quốc gia, cũng như chuẩn bị nguồn nhân lực để có thể đáp ứng được yêu cầu hội nhập đang là một yêu cầu mang tính thời sự; một đòi hỏi cấp bách đặt ra cho chúng ta. Sự chuẩn bị của các doanh nghiệp để có chỗ đứng trên thị trường nội địa bằng các sản phẩm có chất lượng được coi là trung tâm của cuộc vận động “Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt”. Trong cuộc vận động này, cả Chính phủ, người dân và cộng đồng doanh nghiệp đều có trách nhiệm giúp sản phẩm doanh nghiệp Việt tiêu thụ mạnh mẽ trên thị trường. Được xem là “nhân vật ” trung tâm của thời cuộc, nên doanh nghiệp cần phải nghĩ tới những bước đi xa hơn, dài hơn. Như vậy, tìm ra sự khác biệt, độc đáo với tốc độ nhanh trong tư duy thì mới có thể khẳng định được vị thế của mình trên thương trường, khắc phục những nhược điểm quy mô nhỏ, năng lực tài chính, công nghệ và năng lực tổ chức thị trường yếu, nguồn nhân lực chất lượng thấp… Những điểm yếu của doanh nghiệp liên quan tới việc điều tra tâm lý thị trường, chế độ hậu mãi, kỹ thuật tiếp thị sản phẩm... cần sớm được khắc phục nhằm đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến với người tiêu dùng mạnh mẽ hơn nữa. 

Hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã, đang và sẽ không tránh khỏi sự xáo trộn, đình trệ do nhu cầu tiêu dùng tại các thị trường lớn trên thế giới chưa phục hồi, trong khi nguy cơ bảo hộ thương mại ngày càng gia tăng. Điều đó buộc các doanh nghiệp Việt Nam muốn phát triển phải hợp tác không chỉ giữa các doanh nghiệp trong nước, mà còn là hợp tác quốc tế để vượt qua các rào cản thương mại. Việc loại bỏ hàng rào phi thuế quan luôn là yêu cầu đồng hành với cắt giảm thuế quan trong mọi hình thức hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam sẽ không được phép duy trì các biện pháp phi thuế mà không có lý do chính đáng theo các quy định của WTO, ASEAN/AFTA… Như vậy, nhiều doanh nghiệp đang được bảo hộ sẽ phải đối mặt với không ít thách thức do nguy cơ gia tăng cạnh tranh của hàng nhập khẩu. 

Cường độ cạnh tranh càng cao, càng khốc liệt thì tham vọng vươn tới độc quyền càng lớn và chắc chắn sẽ xuất hiện ngày càng nhiều thủ đoan để né tránh sức ép của cạnh tranh. Mặt khác, khi đó “vùng hoạt động” tối ưu (hay còn gọi là khe hở thị trường) của mỗi doanh nghiệp có xu hướng bị thu hẹp. Chính vì vậy “đối sách kinh doanh” để tồn tại của các doanh nghiệp thời gian vừa qua chắc không còn phù hợp, phải thay đổi. Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp nhỏ thường rơi vào thế bất lợi, nhưng đồng thời lại làm nảy nở ở đây tính linh hoạt, năng động, thích ứng nhanh, nhằm tìm ra những cơ hội mới của thị trường. Trong điều kiện hiện nay, các DN Việt Nam rất cần có các nhà quản lý và các nhà chiến lược giỏi, biết nắm bắt, phân tích, xử lý, suy đoán và dự báo tình hình. 

Cạnh tranh là nguyên tắc có tính nền tảng, có tính hiến pháp của kinh tế thị trường, nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải hoạt động có hiệu quả và thường xuyên nâng cao hiệu quả để thu được lợi nhuận. Với mỗi doanh nghiệp và doanh nhân Việt, nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn, thu lại lợi ích lớn hơn, bền vững hơn, mà còn là mệnh lệnh của trái tim và khối óc, quyết vì một cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam hướng tới tầm nhìn sánh vai với các doanh nghiệp nổi tiếng của các cường quốc năm châu trong hội nhập toàn cầu.