Hội nghị Phổ biến Thông tư liên tịch 44/2013/TTLT-BCT-BKHCN Quy định về quản lý chất lượng thép sản xuất trong nước và thép nhập khẩu, do Bộ Công Thương phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức; Tạp chí Công Thương là đơn vị bảo trợ thông tin và tổ chức thực hiện đã diễn ra ngày 25/3/2014. Hội nghị có sự tham dự của đại diện các nhà quản lý thuộc Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hiệp hội Thép Việt Nam và đông đảo các đại diện doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngành Thép trong và ngoài nước.
giới thiệu sự cần thiết phải xây dựng Thông tư 44
Cần thiết phải xây dựng Thông tư
Phát biểu tại Hội nghị, bà Phạm Thu Giang - Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương cho rằng, Luật chất lượng sản phẩm, Luật Tiêu chuẩn kỹ thuật đã được Quốc hội phê duyệt từ năm 2007, cho đến nay việc thực hiện luật này vẫn có những điểm chưa được thực hiện nghiêm túc. Trong mấy năm qua, tình hình kinh tế thế giới suy giảm, ảnh hưởng trầm trọng đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là trong ngành xây dựng là ngành sử dụng rất nhiều sản phẩm thép. Hiện tượng gian lận thương mại về tiêu chuẩn, về chủng loại thép ngày càng nhiều, đòi hỏi chúng ta cần phải thực hiện đầy đủ các điều kiện trong các luật đã ban hành. Để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đảm bảo sự cạnh tranh lành mạnh, Bộ Công Thương và Bộ Khoa học & Công nghệ đã soạn thảo Thông tư liên tịch về quản lý chất lượng thép sản xuất trong nước và thép nhập khẩu, điểm lại những công việc phải thực hiện trong các luật trên, với những nội dung chủ yếu giúp cho quyền lợi người tiêu dùng, quyền lợi của doanh nghiệp làm ăn chân chính được đảm bảo hơn.
Theo ông Chu Đức Khải - Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, năm 2013 là năm kinh tế khó khăn, nhưng ngành Thép Việt Nam vẫn tăng trưởng cao, sản lượng sản xuất đạt 10.348.000 tấn thép, tăng 12,32% so với năm 2012. Tuy nhiên, mức tăng trưởng không đều ở các chủng loại sản phẩm, sản phẩm dài hầu như không thay đổi, thép cuộn cán nguội tăng 12%, ống thép tăng 23,82%, tôn mạ tăng 43,76%. Tổng lượng thép tiêu thụ trong năm là 11.601.000 tấn, tăng 5,69% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu đạt 8,062 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu 2,378 tỷ USD.
Ông Chu Đức Khải nhận định, năm 2014 ngành Thép Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều thách thức, như: mất cân đối giữa năng lực sản xuất và khả năng tiêu thụ của thị trường; thị trường thép thế giới đang ở mức trầm lắng; áp lực từ thị trường thép Trung Quốc với năng lực sản xuất dư thừa và đang áp dụng những chính sách khuyến khích xuất khẩu sang các nước trong đó có Việt Nam; nhiều nhà máy sản xuất thép đi vào hoạt động (Thái Trung, Hòa Phát, Pomina…), nên mức độ cạnh tranh sẽ tăng lên. Dự báo năm 2014, tổng tiêu thụ thép sẽ tăng 7-10%, thép xây dựng tăng 3-5%, các loại thép khác sẽ tăng cao khoảng 20-30%, giá thép sẽ ít thay đổi. Do vậy, nhằm nâng cao tính cạnh tranh cho sản phẩm thép sản xuất trong nước, Hiệp hội Thép khuyến nghị các doanh nghiệp cần chủ động đầu tư chiều sâu, tiết kiệm nguyên – nhiên vật liệu, năng lượng; không đầu tư mới những sản phẩm có năng lực sản xuất đang dư thừa; hợp tác giữa các đơn vị thành viên trong việc ổn định thị trường; chủ động điều kiện tận dụng lợi thế của lộ trình thực hiện WTO, TPP; tìm hướng tăng cường xuất khẩu và đặc biệt là ngăn chặn thép chứa Boron (B) của Trung Quốc đội lốt thép hợp kim nhập khẩu vào Việt Nam.
Đưa Thông tư vào thực tiễn
Phổ biến các nội dung quy định trong Thông tư 44, ông Đào Trọng Cường - Chuyên viên, Vụ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương cho biết, Thông tư gồm 5 chương 16 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 6 năm 2014. Trong đó quy định rõ, tổ chức, cá nhân sản xuất thép trong nước phải công bố sản phẩm phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) tương ứng; trường hợp chưa có QCVN, thì phải có trách nhiệm công bố tiêu chuẩn áp dụng cho sản phẩm hàng hóa. Tổ chức, cá nhân nhập khẩu thép phải công bố tiêu chuẩn áp dụng cho hàng hóa trong hợp đồng nhập khẩu.
Việc kiểm tra, đánh giá sự phù hợp chất lượng thép sản xuất trong nước được thực hiện theo quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa và theo quy định về điều kiện bảo đảm chất lượng thép sản xuất trong nước. Đối với thép nhập khẩu, được thực hiện theo hình thức kiểm tra tại nguồn hoặc đánh giá sự phù hợp theo lô hàng hóa. Việc kiểm tra chất lượng thép nhập khẩu tại nguồn do Bộ Công Thương chủ trì.
Phổ biến các nội
dung quy định trong Thông tư 44 quy định về Đánh giá sự phù hợp chất lượng
thép, bà Nguyễn Mai Hương - Chuyên viên, Vụ Hợp chuẩn hợp quy, Tổng cục
Tiêu chuẩn đo lường chất lượng, Bộ Khoa học và Công nghệ đã nêu rõ, theo Luật
Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (SPHH) thì nguyên tắc quản lý chất lượng SPHH gồm:
nhóm 1 (SPHH không có khả năng gây mất an toàn), tiêu chuẩn công bố áp dụng sẽ
do DN tự thực hiện; nhóm 2 (SPHH có khả năng gây mất an toàn) có 2 yếu tố: tiêu
chuẩn công bố áp dụng do DN tự thực hiện và QCVN do Bộ QLCN ban hành. Bộ Công
Thương chỉ định tổ chức thử nghiệm chất lượng thép; Bộ Khoa học và Công nghệ
chỉ định tổ chức giám định, tổ chức chứng nhận chất lượng thép. Theo Thông tư
44 thì thép sản xuất trong nước và thép nhập khẩu phải được kiểm định. Yêu cầu
đối với tổ chức thử nghiệm trong nước là đã đăng ký lĩnh vực hoạt động thử
nghiệm; xây dựng, áp dụng và duy trì hiệu lực HTQLCL theo TCVN. Tổ chức thử
nghiệm nước ngoài được chỉ định đáp ứng các yêu cầu quy định tại Thông tư 26/2013/TT-BKHCN.
Yêu cầu đối với tổ chức chứng nhận được chỉ định và tổ chức giám định được chỉ
định được quy định tại Thông tư 09/2009/TT-BKHCN và Thông tư 11/2009/TT-BKHCN.
Cũng tại Hội nghị, các chuyên gia đã giúp các nhà doanh nghiệp làm sáng tỏ nhiều vướng mắc để áp dụng Thông tư 44 vào thực tiễn sản xuất, kinh doanh hiệu quả nhất. Ví dụ như về điều kiện bảo đảm chất lượng thép là phải công bố tiêu chuẩn áp dụng nhưng đối với hàng không quy chuẩn, hàng nhiều kích thước, quy cách khác nhau, có nhiều tiêu chuẩn khác nhau thì việc công bố tiêu chuẩn như thế nào? Rõ ràng là hàng loại 2 là hàng đã qua sử dụng thì quản lý theo hàng nhập khẩu phế liệu về sản xuất, áp dụng theo Thông tư liên tịch 34/TTLT-BCT-BTNMT của liên Bộ Công Thương và Bộ Tài nguyên & Môi trường. Trong trường hợp hàng thử nghiệm không phù hợp với tiêu chuẩn công bố thì sẽ phải buộc tái xuất. Thời gian cấp giấy chứng nhận phù hợp tùy thuộc vào chủng loại thép, tiêu chuẩn công bố và năng lực tại thời điểm của các phòng thử nghiệm. Đối với các sản phẩm có yêu cầu đặc biệt thì cần làm việc giữa cơ quan giám định và Hải quan (theo Điều 27 Thông tư 128/2013/TT-BTC). Trong hợp đồng nhập khẩu, DN đăng ký theo tiêu chuẩn nào sẽ kiểm tra theo tiêu chuẩn đó, không phải đăng ký sang tiêu chuẩn tương đương của VN.
Đăng ký năng lực sản xuất dựa theo năng lực đã đăng ký (Giấy đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đầu tư) của doanh nghiệp.
Nếu số lượng nhập khẩu vượt quá 150% nhu cầu sử dụng trong 01 năm đã được xác nhận, thì hải quan sẽ không thông quan.
Danh sách các tổ chức thử nghiệm, giám định đang được các cơ quan quản lý xem xét hồ sơ, xét duyệt. Sau khi có danh sách, sẽ công bố công khai trên website của Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng và Cổng Thông tin điện tử Bộ Công Thương trong thời gian sớm nhất.
Việc
cá nhân sản xuất thép trong nước phải công bố sản phẩm phù hợp với quy
chuẩn quốc gia là bắt buộc phải áp dụng. Trình tự thủ tục hồ sơ được
thực hiện theo Thông tư 28//2012/TT-BKHCN.
Nếu doanh nghiệp nhập khẩu từ 2 nguồn CSC-Đài Loan và NSSMC-Nhật Bản sẽ
thực hiện đánh giá toàn bộ tại từng nhà máy. Đối với hình thức đánh giá
tại nguồn, nếu nhà sản xuất thép chứng nhận tại nguồn sẽ áp dụng chung
cho các sản phẩm của nhà sản xuất đấy. Đối
với hình thức đánh giá theo lô hàng thì không sử dụng kết quả của nhà
nhập khẩu này cho nhà nhập khẩu khác. Nội dung đánh giá sẽ có trong
quyết định thành lập đoàn đánh giá: Thành viên; nội dung làm việc...
Thép của doanh nghiệp FDI bán cho doanh nghiệp chế
xuất cũng chịu sự quản lý của Thông tư 44. Doanh nghiệp đóng tại Việt
Nam sẽ áp dụng như đối với thép sản xuất trong nước. Riêng đối với hàng
hóa khu chế xuất sẽ thực hiện theo cơ chế riêng của khu chế xuất.
Trong trường hợp hàng hóa của doanh nghiệp nhập về phải lưu kho, để đảm bảo ổn định tính cung cầu, giúp các doanh nghiệp không để hàng tồn lưu kho nhiều, nên Thông tư đã quy định không nhập khẩu quá 150% nhu cầu sử dụng.
