Tồn kho có dấu hiệu giảm
Tính đến hết tháng 5/2012, chỉ số tiêu thụ toàn ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,6% so với cùng kỳ, trong đó tăng chủ yếu ở nhóm hàng chế biến rau quả, thuỷ sản, bơ, sữa, thức ăn gia súc, đường và nhóm hàng sản xuất mỹ phẩm, xà phòng chất tẩy rửa, đồ uống, phân bón... Những nhóm hàng có chỉ số tiêu thụ giảm vẫn tập trung vào một số nhóm sản xuất như: giấy nhăn và bao bì giảm 28,5%, sản xuất xi măng giảm 9,9%, các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 25%, sản xuất sợi và dệt vải giảm 14,2%; sản xuất xe có động cơ giảm 5,3%; sản xuất mô tô xe máy giảm 6,6%.
Lượng tồn kho của nhiều sản phẩm vẫn còn cao so với cùng kỳ năm trước, đến thời điểm 01/6, lượng tồn kho của đồ uống không cồn tăng 23,8%; thuốc lá, thuốc lào tăng 41,4%; bột giấy, giấy và bìa tăng 15,6%; giấy nhăn và bao bì tăng 130%; sản xuất xi măng tăng 29,3%; sản xuất xe có động cơ tăng 116,7%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 25,7%; sản xuất trang phục (trừ quần áo da lông thú) tăng 23,1%; sản xuất sản phẩm bơ, sữa tăng 8,7%... Tuy nhiên, chỉ số hàng tồn kho đã có dấu hiệu giảm so với những tháng đầu năm. Ông Phạm Sĩ Trung – Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch, Bộ Công Thương dẫn chứng, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tồn kho ngành Công nghiệp chế biến tháng 3 tăng 34,9% so cùng kỳ, tháng 4 tăng 32,1%, tháng 5 tăng 29,4% và đến tháng 6 tăng 26% so cùng kỳ. Như vậy chỉ số tồn kho đang có xu hướng giảm dần. Trong khi sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm tăng 4,5% so với 4,1% của tháng 3. Đây là tín hiệu mừng với các nhà sản xuất trong bối cảnh cực kỳ khó khăn như hiện nay.
Việc sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm có tăng trưởng nhưng ở mức thấp, trong đó nhóm ngành Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng thấp, thấp hơn nhiều so với mức tăng 12,7% của cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất của ngành vẫn gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng nhóm hàng Công nghiệp chế biến giảm, trong bối cảnh kinh tế gặp khó khăn, sức mua trên thị trường thấp; tồn kho của một số ngành còn ở mức cao... sản xuất hàng hoá vì thế tăng chậm lại. Có những thời điểm dù tăng lương cơ bản (từ tháng 5/2012) nhưng sức mua cũng không tăng, vì vậy tác động rất ít đến mặt bằng giá chung.
Thị trường trong nước chủ yếu sôi động trong các hoạt động du lịch, dịch vụ. Đối với các mặt hàng thuộc nhóm hàng tiêu dùng, mặc dù doanh nghiệp đã có nhiều chương trình khuyến mãi nhưng hàng hóa tiêu thụ vẫn chậm. Các doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động nhưng không ít trong số đó vẫn trong trạng thái cầm chừng do gặp khó khăn về đầu ra. Mặc dù lãi suất ngân hàng đã giảm, Ngân hàng Nhà nước cũng đã có những chủ trương hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất song vẫn còn những “rào cản” làm doanh nghiệp khó tiếp cận vốn vay giá rẻ, nhiều doanh nghiệp ở trong tình trạng không đủ điều kiện cho vay... đã ảnh hưởng lớn đến tình hình thực hiện các dự án đầu tư nâng cao năng lực sản xuất và thực hiện các mục tiêu kế hoạch đặt ra, gây lãng phí các nguồn lực huy động.
Duy trì các thị trường xuất khẩu
Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá 6 tháng đầu năm 2012 ước đạt 53 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm 2011, tương đương với gần 9,7 tỷ USD bằng 48,5% so với kế hoạch năm.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến có mức tăng trưởng cao, cao hơn tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung, ước đạt 33,2 tỷ USD, tăng 30,7% so với cùng kỳ năm 2011. Có thể nói đây là nhóm hàng chủ lực đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Trong đó, nhóm các sản phẩm sản xuất từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như: điện thoại các loại và linh kiện, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đã đóng góp hơn 4,5 tỷ USD vào sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
Nhóm hàng nông, thuỷ sản trong 6 tháng đầu năm 2012 cũng tăng 8,4% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 19,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Mặc dù lượng xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng đều tăng (trừ mặt hàng gạo), đặc biệt có một số mặt hàng lượng xuất khẩu tăng cao như: sắn và các sản phẩm từ sắn, nhân điều, cao su (tăng trên 40%), nhưng do giá xuất khẩu giảm đã làm cho kim ngạch xuất khẩu của nhóm giảm 805 triệu USD so với cùng kỳ.
Tiếp đó là nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản, ước đạt 5,65 tỷ USD, tăng 4,9% so với cùng kỳ, chiếm tỷ trọng 10,6% kim ngạch xuất khẩu. Ở nhóm này, do việc Nhà máy Lọc dầu Dung Quất dừng hoạt động nên lượng xuất khẩu dầu thô tăng, còn lại các mặt hàng khác như: than đá, tái xuất xăng dầu, quặng và các sản phẩm từ quặng lượng xuất khẩu đều giảm. Tuy nhiên, giá xuất khẩu của nhóm (trừ giá xuất khẩu than đá giảm), còn lại các mặt hàng khác đều tăng nên so với cùng kỳ tổng kim ngạch xuất khẩu chung của nhóm vẫn tăng 264 triệu USD.
Về thị trường xuất khẩu, so với cùng kỳ năm 2011, ước xuất khẩu sang thị trường khu vực các nước châu Á có mức tăng trưởng cao nhất (tăng 30,7%) cao hơn tốc độ tăng trưởng xuất khẩu chung. Trong đó: tăng cao nhất là thị trường các nước Tây Á (tăng 62,2%), tiếp đến là thị trường các nước Đông Á (tăng 33,7%) và thị trường các nước Đông Nam Á (tăng 22,8%), điều này cho thấy, thị trường châu Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam với tốc độ tăng trưởng cao nhất và chiếm tỷ trọng lớn nhất (hơn 52% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam). Mặc dù có những khó khăn nhất định, nhưng xuất khẩu sang khu vực thị trường các nước châu Mỹ vẫn có tốc độ tăng trên 21%, trong đó thị trường Mỹ tăng 19,8%; thị trường châu Âu tăng 17,7%, trong đó các nước thuộc EU 27 tăng 22,4%.
Đánh giá chung về tình hình xuất khẩu 6 tháng đầu năm cho thấy, tăng trưởng xuất khẩu có sự đóng góp lớn của các mặt hàng thuộc nhóm công nghiệp chế biến và chủ yếu do sự đóng góp của các mặt hàng thuộc khối các doanh nghiệp FDI sản xuất như: điện thoại các loại và linh kiện, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện...
Để hoàn thành kế hoạch năm 2012 mà Chính phủ giao (109,5 tỷ USD) thì trong 6 tháng cuối năm phải xuất khẩu bình quân là 9,4 tỷ USD/tháng (6 tháng đầu năm xuất khẩu được 8,85 tỷ USD/tháng). Đây là con số khá cao, trong tình hình kinh tế thế giới chậm được cải thiện như hiện nay và để đạt được mục tiêu này thì cần sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của các bộ, ngành, địa phương và nhất là các doanh nghiệp.
Giải pháp 6 tháng cuối năm
Dự báo trong 6 tháng cuối năm, tình hình kinh tế trong nước vẫn chịu nhiều tác động của kinh tế thế giới, nhưng sản xuất công nghiệp sẽ khả quan hơn nhờ sự chỉ đạo sát sao của Trung ương Đảng và Chính phủ, sự quyết tâm thực hiện nghiêm túc của các Bộ, ngành, địa phương và các doanh nghiệp trong công tác điều hành. Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước bắt đầu có tác dụng như: giảm lãi suất, thuế, ưu tiên và cho ứng vốn những dự án đã có kế hoạch, từng bước tháo gỡ khó khăn, ưu tiên nguồn lực cho hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư chiều sâu, nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, mở rộng thị trường... Do vậy, sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến có triển vọng tăng cao hơn 6 tháng đầu năm. Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật có thể đạt như kế hoạch đề ra, nhưng phải nỗ lực rất lớn.
Ông Nguyễn Nam Hải – Thứ trưởng Bộ Công Thương cho biết, 6 tháng cuối năm, Bộ Công Thương đề ra một số giải pháp cụ thể gồm: Đối với sản xuất, trước mắt, để tháo gỡ khó khăn, các doanh nghiệp sản xuất tính toán các yếu tố đầu vào, tiết giảm chi phí, khơi thông đầu ra cho hàng hóa bằng cách củng cố hệ thống phân phối để sản phẩm hàng hóa từ nhà sản xuất đến tay người tiêu dùng ở mức giá thấp nhất, giảm tồn kho sản phẩm; Tiếp tục thực hiện sâu rộng Cuộc vận động ”Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, nhằm giảm nhập khẩu, khuyến khích tiêu dùng hàng trong nước, kích thích sản xuất phát triển...
Về các hoạt động xuất nhập khẩu, cần khẩn trương thực hiện các chương trình Xúc tiến thương mại quốc gia nhằm khai thông thị trường; Tổ chức hiệu quả, đồng bộ công tác thông tin, dự báo, bám sát tình hình thị trường; Chỉ đạo các tham tán thương mại tại các thị trường, đặc biệt là các thị trường trọng điểm kịp thời phát hiện các thay đổi về chính sách, cơ chế quản lý nhập khẩu, kiểm soát chất lượng hoặc những thông tin bất lợi đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam tại các thị trường, kịp thời thông báo cho các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp, Hiệp hội để chủ động phối hợp, ngăn ngừa, giải quyết sớm các vụ việc phát sinh.
Mặt khác, chủ động phối hợp với Bộ Tài chính đẩy mạnh hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn; đẩy mạnh hoạt động bảo hiểm tín dụng xuất khẩu nhằm bảo hiểm rủi ro cho doanh nghiệp xuất khẩu. Đồng thời, tiếp tục phối hợp với Bộ Tài chính trong việc điều chỉnh linh hoạt thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và tạo thuận lợi hơn nữa về thủ tục hải quan theo hướng hỗ trợ tối đa cho sản xuất trong nước và thúc đẩy kinh doanh, xuất khẩu...
Với những giải pháp cụ thể và sự chỉ đạo quyết liệt từ các cấp lãnh đạo, ngành Công Thương sẽ nỗ lực để hoàn thành và vượt các chỉ tiêu Chính phủ giao trong năm 2012.
Ngành Công Thương nỗ lực khắc phục suy giảm kinh tế
TCCT
Theo báo cáo của Bộ Công Thương, 6 tháng đầu năm 2012, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 4,5%, đây là mức tăng trưởng thấp so với cùng kỳ (năm 2011 tăng 9,7% so với năm 2010). Tuy nhiên, mức tăng trưởn
