Người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quan tâm tới chất lượng sản phẩm

Nhân dịp Bộ Công Thương tổ chức Chương trình “Nhận diện hàng Việt Nam - Tự hào hàng Việt Nam năm 2016”, Tạp chí Công Thương đã có cuộc phỏng vấn TS. Claudio Dordi - Trưởng nhóm Tư vấn kỹ thuật, Dự án

TCCT: Ông đánh giá thế nào về chất lượng hàng hóa Việt Nam hiện nay, thưa ông?

TS. Claudio Dordi: Chất lượng sản phẩm của Việt Nam trước hết dựa vào chất lượng nguyên liệu; Thứ hai, chịu ảnh hưởng bởi quy trình sản xuất. Nếu nhà sản xuất có thể sản xuất được các sản phẩm đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh và chỉ tiêu kỹ thuật, thì đó chắc chắn là sản phẩm có chất lượng cao. Một vấn đề nữa là những nhân tố tác động đến quá trình sau sản xuất, khi sản phẩm được xuất xưởng và phân phối ra thị trường.

Việc phát triển thị trường của doanh nghiệp phụ thuộc phần lớn vào chất lượng sản phẩm. Đối với thị trường trong nước và nước ngoài thì vấn đề căn bản là mức độ an toàn của sản phẩm, an toàn về vệ sinh cũng như tiêu chuẩn kỹ thuật. Trong khi đó, hàng hóa chất lượng cao lại phụ phuộc vào nguồn nguyên liệu thô và thành phần đầu vào. Do đó, việc quản lý được nguồn nguyên liệu nhập khẩu rất quan trọng. Với thị trường trong nước, cần quản lý được quá trình phân phối ra thị trường.

Một vấn đề quan trọng nữa là thiếu công nghệ. Những sản phẩm thiếu cải tiến công nghệ cũng đồng nghĩa với việc thiếu tính cạnh tranh so với những sản phẩm chứa hàm lượng công nghệ cao sản xuất ở nước ngoài.

TCCT: Đôi khi, các sản phẩm của Việt Nam có chất lượng khá tốt, tuy nhiên người tiêu dùng trong nước và ngoài nước lại chưa biết đến!

TS. Claudio Dordi: Đây là câu chuyện sau sản xuất, liên quan đến vấn đề làm sao để hàng hóa được người tiêu dùng biết đến, bao gồm các chiến lược xuất khẩu, marketing và thương hiệu.

Khi một sản phẩm được phân phối trên thị trường mà không tuân theo một chiến lược phân phối và quảng bá thương hiệu tốt, thì người tiêu dùng sẽ không biết rằng họ đang ăn hoặc mặc một sản phẩm của Việt Nam, và đó là những sản phẩm tốt. Ngược lại, nếu sản phẩm có chất lượng không tốt, ngay lập tức cả thị trường sẽ biết và đặc biệt là các nhà chức trách Hải quan sẽ ngừng nhập khẩu. Như vậy, tất cả mọi người đều biết sản phẩm không tốt đó là từ Việt Nam.

Đây là một vấn đề lớn. Điều quan trọng nhất là làm sao các doanh nghiệp Việt Nam có thể có nguồn lực để quảng bá các sản phẩm tốt, và giải quyết các vấn đề của sản phẩm kém chất lượng khi phân phối ở thị trường nước ngoài.

TCCT: Như ông đề cập thì có quá nhiều vấn đề, vậy nên bắt đầu từ đâu?

TS. Claudio Dordi: Hãy bắt tay hành động một số việc.

Đầu tiên là quản lý nguyên liệu nhập khẩu. Điều này đòi hỏi phải có sự quản lý tập trung ở các khu vực cửa khẩu, biên giới và bên trong nội địa.

Thứ hai là cần phải cung cấp thông tin với nhà sản xuất và người tiêu dùng tốt hơn. Ví dụ như đối với các sản phẩm nông nghiệp, nông dân cần phải biết quy trình canh tác, các loại chất hóa học có thể được sử dụng để bảo vệ chất lượng của sản phẩm.

Thứ ba là phải xây dựng được một hệ thống phân phối có thể truy xuất nguồn gốc của sản phẩm, khẳng định và phân biệt được chất lượng của những sản phẩm tốt, an toàn vệ sinh cao với các sản phẩm có chất lượng thấp, không đạt tiêu chuẩn.

Vấn đề thứ tư là cần phải phát triển một chiến lược rõ ràng về phân phối. Cả thị trường trong nước và nước ngoài đều đòi hỏi năng lực quảng bá sản phẩm tới được người tiêu dùng.

TCCT: Ông có thể nói cụ thể hơn?

TS. Claudio Dordi: Có một số công cụ marketing hữu hiệu cho việc này. Ví dụ như Mutrap và Vietrade cùng hợp tác với nhau để quảng bá chiến lược thương hiệu cho một số sản phẩm nông nghiệp. Nhưng một vấn đề nan giải hơn là hầu hết các sản phẩm sản xuất tại Việt Nam đều được bán tại xưởng để xuất khẩu hoặc cho nhà nhập khẩu. Điều này đồng nghĩa với việc nhà sản xuất Việt Nam không thể kiểm soát được thương hiệu cũng như chiến lược xuất khẩu của những sản phẩm này.

Trong một số trường hợp, nếu sản phẩm Việt Nam được bán cho những thương hiệu lớn thì việc này là dễ hiểu. Song nếu chỉ bán cho các đơn vị bán buôn để phân phối thì việc quản lý được thương hiệu và chiến lược lại vô cùng quan trọng.

Một khả năng nữa có thể thực hiện được là hợp tác với các thương hiệu đang có sẵn, hoặc các kênh phân phối có sẵn. Một ví dụ nữa về Mutrap là chúng tôi kết hợp với một số đơn vị sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ để có được nhãn thương mại công bằng. Như vậy, có rất nhiều công cụ khác nhau, nhưng đều yêu cầu thông tin minh bạch hơn cho nhà sản xuất, đặc biệt là nông dân, nhà phân phối, và khả năng quản lý chất lượng phù hợp với các quy tắc xuất khẩu hoặc thị trường trong nước.

TCCT: Vậy phát triển thị trường đòi hỏi nỗ lực rất nhiều từ phía Chính phủ và doanh nghiệp?

TS. Claudio Dordi: Tôi nghĩ là, giống như tất cả các quốc gia khác, người tiêu dùng Việt Nam ngày càng quan tâm đến chất lượng sản phẩm hơn là số lượng hay giá cả. Vì vậy, cách để các nhà sản xuất Việt Nam phát triển thị trường nội địa, là thực hiện đúng nhu cầu của khách hàng, đó là tập trung vào chất lượng.

Chính phủ nên đi đầu, đặc biệt là các đơn vị quản lý chất lượng sản phẩm phân phối ra thị trường và các đơn vị quản lý sản phẩm nhập khẩu. Đây chính là hai chức năng quan trọng nhất phát đi thông điệp của Chính phủ ra thị trường, đó là nghiêm khắc quản lý chất lượng sản phẩm và điều này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến triết lý kinh doanh của nhà sản xuất.

Khi họ biết là họ không thể làm bất cứ thứ gì họ muốn, họ phải tuân thủ các nguyên tắc, thì đây là những bước đầu tiên để phát triển. Và nếu cạnh tranh nội địa tăng lên, khả năng lớn là các sản phẩm sẽ được xuất khẩu ra nước ngoài. Đây là một con đường dài nhưng tôi tin Việt Nam có thể đạt được.