Phát triển các khu công nghiệp - tăng cường thu hút đầu tư ở tỉnh Bắc Ninh: thực trạng và giải pháp

Tỉnh Bắc Ninh nằm trong khu vực Đồng bằng sông Hồng, có diện tích tự nhiên nhỏ nhất trong cả nước với 822,7 km2. Bắc Ninh có hệ thống giao thông nội bộ và liên kết với các trung tâm kinh tế được mở rộ
Từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay, những tiềm năng nội lực đã được Bắc Ninh phát huy mạnh mẽ, tạo lập môi trường hấp dẫn thu hút các nguồn lực bên ngoài thúc đẩy kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh phát triển nhanh và toàn diện. Nhịp độ tăng tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân mỗi năm 15,26%; trong đó, khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 19,15%; khu vực dịch vụ tăng 18,3% và khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 0,93%. Tốc độ tăng GDP qua các năm luôn cao và khá ổn định, kể cả những năm có nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và thiên tai như năm 2008 và 2009. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng trong GDP tăng nhanh từ 49,52 năm 2005 lên 70,7% năm 2011. Trong khi đó, tỷ trọng khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm đáng kể, từ 21,31% xuống còn 8,5%. Có được kết quả này là do ngay sau khi tỉnh Bắc Ninh được tái lập, Tỉnh đã xác định một trong những giải pháp quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội, đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH là tập trung thu hút đầu tư, xây dựng và phát triển các khu công nghiệp (KCN) tập trung trên địa bàn tỉnh.

Thực trạng phát triển các KCN và thu hút đầu tư
Tháng 12-2000, KCN Tiên Sơn - KCN tập trung đầu tiên của tỉnh được khởi công xây dựng. Từ đó đến nay, công tác quản lý quy hoạch xây dựng trong các KCN được thực hiện theo đúng trình tự, quy định và đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của các nhà đầu tư và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đặc biệt, xây dựng mô hình KCN gắn liền với đô thị hiện đại đã góp phần điều chỉnh lại không gian kinh tế - xã hội của tỉnh, thể hiện ở việc thúc đẩy phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng liên kết (giao thông, điện, viễn thông,…); tạo sự phát triển đồng đều, hỗ trợ lẫn nhau giữa các khu vực trong tỉnh và kết nối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, vùng thủ đô Hà Nội.

Toàn tỉnh Bắc Ninh hiện có 15 KCN tập trung nằm trong danh mục KCN được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, tổng diện tích 6.847 ha; đã được phê duyệt Quy hoạch chi tiết xây dựng diện tích 5.961 ha, đạt 87,06% (5.961ha/6.847ha). Đến nay đã có 9 KCN đã đi vào hoạt động, các KCN còn lại đang làm thủ tục triển khai xây dựng. Tỷ lệ lấp đầy trên diện tích quy hoạch đạt 58,16% (1.217ha/2.093ha), tỷ lệ lấp đầy trên diện tích thu hồi đạt 75,38% (1.217ha/1.615ha). Trong những năm gần đây, tỉnh Bắc Ninh đã thực hiện triển khai các hoạt động về công tác xúc tiến thu hút đầu tư - kinh doanh thông thoáng, minh bạch và hấp dẫn các nhà đầu tư, được thể hiện qua chỉ số năng lực môi trường cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của tỉnh, nếu như năm 2010 xếp thứ 6/63 tỉnh, đến năm 2011 đã xếp thứ 2/63 tỉnh thành trong cả nước, đây là một bước tiến lớn trong việc nâng cao hình ảnh của tỉnh đối với các nhà đầu tư.

Có được kết quả đó là do Bắc Ninh đã thực hiện tốt cơ chế “một cửa” trong cấp giấy chứng nhận đầu tư tại Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban quản lý các KCN tỉnh. Tỉnh Bắc Ninh thường xuyên biên tập tài liệu, brochure, đĩa VCD giới thiệu về các Khu công nghiệp trên địa bàn để phục vụ công tác xúc tiến và thu hút đầu tư. Đổi mới công tác xúc tiến đầu tư về cả hình thức và nội dung hoạt động, hướng đến chuyên nghiệp hóa công tác xúc tiến đầu tư. Chú trọng công tác tiếp cận các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản,… Nhờ vậy, các KCN Bắc Ninh đã thu hút được các dự án đầu tư lớn trong và ngoài nước, có công nghệ hiện đại, tiên tiến, thu hút nhiều lao động có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao, có thương hiệu và uy tín trong khu vực và trên thế giới như: Samsung, Canon, ABB, Nokia,… Từ đó, xây dựng được hình ảnh đặc trưng của mỗi KCN, kéo theo chuỗi các nhà đầu tư vệ tinh khác, tạo lập KCN chuyên ngành và công nghiệp hỗ trợ. Lũy kế đến nay có 527 dự án đầu tư còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký 4,1 tỷ USD, thuê 1.152ha đất công nghiệp. Suất đầu tư đạt 7,73 triệu USD/dự án và 3,56 triệu USD/ha. Đến nay, các KCN Bắc Ninh có tổng số 263 dự án đi vào hoạt động, góp phần quan trọng vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Năm 2011, giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN (không tính công ty đầu tư phát triển hạ tầng) đạt 142.704 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu đạt 6.512 triệu USD, nộp ngân sách tỉnh 2.653 tỷ đồng. 



                                                     Các khu công nghiệp ở Bắc Ninh

Tổng số lao động đang làm việc tại các KCN Bắc Ninh hiện là 87.053 lao động; trong đó, số lao động địa phương là 35.655 lao động chiếm 41% tổng số lao động, lao động nữ là 61.575 người, chiếm 71%; mức thu nhập bình quân 2,4 triệu đồng/người/tháng. Kết quả thu hút đầu tư và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp KCN cho thấy việc hình thành và phát triển ngành công nghiệp mũi nhọn của tỉnh tập trung vào lĩnh vực điện tử, cơ khí chế tạo, chế biến công nghệ cao và xác lập mô hình công nghiệp hỗ trợ cho phát triển công nghệ cao.

Để công tác thu hút đầu tư mang lại hiệu quả, Ban quản lý các KCN Bắc Ninh thường xuyên tiến hành rà soát các doanh nghiệp chậm triển khai xây dựng, không triển khai theo đúng tiến độ đăng ký,… Từ đó có biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp KCN. Đến nay đã thu hồi 68 dự án không có khả năng triển khai xây dựng hoặc đầu tư trong các KCN. Đồng thời, Ban cũng chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng trực tiếp làm việc với doanh nghiệp, với công nhân để giải đáp thắc mắc, góp phần ổn định tình hình an ninh trậ tự, xây dựng mối quan hệ lao động hài hoà, ổn định, tiến bộ trong mỗi doanh nghiệp.

Về vấn đề xây dựng nhà ở cho người lao động tại các KCN trên địa bàn toàn tỉnh: hiện có 6 dự án với tổng diện tích 115.733 m2, đáp ứng chỗ ở cho khoảng 16.512 lao động. Tổ chức công đoàn cơ sở - cầu nối giữa người lao động với chủ doanh nghiệp phát triển mạnh tại các KCN. Tính đến nay có tổng số 158 công đoàn cơ sở tại các KCN với 34.967 đoàn viên. Công đoàn thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy của công nhân lao động và chủ doanh nghiệp, thực hiện công tác chăm lo đời sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, góp phần tạo mối quan hệ lao động hài hoà, tiến bộ và ổn định trong các doanh nghiệp KCN.

Công tác quản lý môi trường đối với các KCN trên địa bàn toàn tỉnh cơ bản đã đi vào nền nếp. Ban đã xây dựng và thực hiện Quy chế phối hợp quản lý và bảo vệ môi trường trong KCN với Sở Tài nguyên và Môi trường, Công an tỉnh và UBND các huyện, thành phố, thị xã.

Thực hiện quan trắc tổng thể về môi trường đối với các KCN và doanh nghiệp KCN Bắc Ninh, hướng dẫn và thẩm định báo cáo ĐTM và bản cam kết bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp KCN. Phối hợp với các Sở, ngành liên quan trong tỉnh và với các công ty đầu tư phát triển hạ tầng KCN thực hiện tuyên truyền pháp luật về môi trường trong KCN, tiến hành giải quyết các vướng mắc về xả thải, xử lý nước thải của các doanh nghiệp KCN. Chủ trì, tham gia kiểm tra, giám sát về môi trường trong các KCN Bắc Ninh.

Một số vấn đề đặt ra trong phát triển các KCN và thu hút đầu tư
Bên cạnh những kết quả nổi bật nêu trên việc phát triển các KCN và thu hút đầu tư của tỉnh vẫn còn bộ lộ 1 số vấn đề như: 

Một là, Chức năng KCN chuyên ngành chưa rõ rệt, chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp mũi nhọn. Các KCN gắn với các công trình phúc lợi xã hội: Nhà ở cho người lao động, trường học, công viên, chợ, nhà trẻ, trung tâm văn hoá thể thao, cơ sở chăm sóc sức khoẻ cho người lao động vẫn thiếu và yếu.

Hai là, Lao động và cơ cấu lao động cơ bản được giải quyết, tuy nhiên, trình độ tay nghề, kỹ năng và ý thức làm việc của người lao động còn thấp. Nhiều doanh nghiệp phải tốn một khoản chi phí không nhỏ cho việc đào tạo lại lao động.

Ba là, Một số doanh nghiệp không thực hiện đúng quy định về chế độ báo cáo, thống kê, gây khó khăn cho công tác tổng hợp, báo cáo, phân tích và dự báo của các cơ quan quản lý nhà nước.

Bốn là, Các công ty đầu tư hạ tầng KCN chưa có khu lưu trữ chất thải tạm thời theo quy định, hệ thống xử lý nước thải tập trung xây dựng chậm so tiến độ đề ra. Vẫn còn doanh nghiệp chưa thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

Một số giải pháp về phát triển KCN và thu hút đầu tư
Một trong những giải pháp quan trọng, có tính chất quyết định để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH tỉnh Bắc Ninh, đó là xây dựng và phát triển bền vững các KCN Bắc Ninh. Trong thời gian tới cần tập trung thực hiện những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Một là, Hoàn thiện đề án điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN Bắc Ninh đến năm 2015 định hướng đến năm 2020 nhằm phát triển đồng bộ, hiệu quả và bền vững giữa đầu tư, xây dựng các KCN trên địa bàn tỉnh và các quy hoạch chuyên ngành khác, tham gia vào việc phân bố, điều chỉnh lại không gian kinh tế - xã hội của tỉnh, tạo sự phát triển hài hoà giữa các khu vực trong tỉnh, là cơ sở để Bắc Ninh hội nhập và phát triển bền vững.

Hai là, Trong công tác xúc tiến, thu hút đầu tư theo hướng hiệu quả và tạo điều kiện phát triển bền vững: tập trung vào các thị trường lớn, tiềm năng như châu Âu, Mỹ, Nhật,…; tập trung thu hút các dự án có vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường, có giá trị gia tăng cao… Thúc đẩy việc phát triển các KCN chuyên ngành, tạo lập ngành công nghiệp mũi nhọn (điện tử, viễn thông) và công nghiệp hỗ trợ.

Ba là, Tăng cường công tác quản lý nhà nước sau đầu tư, cần thường xuyên rà soát, kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp để hỗ trợ, tháo gỡ, bảo đảm cho công tác sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp phát triển ổn định. Đối với các dự án không có điều kiện thực hiện, kiên quyết thu hồi hoặc tạo điều kiện chuyển đổi. Nâng cao chất lượng nguồn lao động, đặc biệt là cán bộ kỹ thuật, quản lý nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp KCN. Xây dựng hệ thống đào tạo liên kết, coi trọng tính thực tế trong giáo dục hướng nghiệp.

Bốn là, Chăm lo, đời sống người lao động, tạo môi trường làm việc hiệu quả, có phương pháp hợp lý khuyến khích người lao động gắn bó lâu dài với doanh nghiệp. Đôn đốc các chủ đầu tư hạ tầng các KCN xây dựng hoàn chỉnh đồng bộ hạ tầng các KCN gắn với các công trình phúc lợi xã hội: Nhà ở cho người lao động, trường học, công viên, chợ, nhà trẻ, trung tâm văn hoá thể thao, cơ sở chăm sóc sức khoẻ cho người lao động, nhằm đảm bảo cho các KCN phát triển bền vững, nêu cao hình ảnh về các KCN Bắc Ninh, góp phần cải thiện môi trường đầu tư và hỗ trợ giải quyết khó khăn cho các doanh nghiệp.

Năm là, Chú trọng công tác bảo vệ môi trường trong các KCN. Đổi mới và nâng cao chất lượng thẩm định báo cáo ĐTM và hoạt động sau thẩm định, tăng cường giám sát quá trình triển khai thực hiện của các doanh nghiệp ngày từ khi xây dựng. Đôn đốc các chủ đầu tư hạ tầng và các doanh nghiệp thứ cấp thực hiện nghiêm các quy định về bảo vệ môi trường.

Sáu là, Nâng cao chất lượng dịch vụ công, tiến tới giải quyết các thủ tục hành chính và thực hiện chế độ báo cáo, thống kê, tổng hợp qua mạng internet nhằm nâng cao hiệu quả công việc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp KCN.

Trên cơ sở khai thác và phát huy tốt các tiềm năng, thế mạnh về KCN và thu hút đầu tư, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh đã phát triển cả bề rộng lẫn bề sâu, cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động đã chuyển dịch nhanh theo xu hướng tích cực, chất lượng cuộc sống của người dân được nâng lên, Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng các KCN và thu hút đầu tư Bắc Ninh cũng gặp phải một số vấn đề cần giải quyết như đã nêu trên như: Nhà ở cho công nhân, vấn đề vệ sinh môi trường, trình độ tay nghề cho người lao động, nợ đọng BHXH, BHYT của chủ doanh nghiệp… đây là những vấn đề lớn, đòi hỏi các cấp ủy đảng, chính quyên, các nhà hoạch định chính sách của tỉnh cần tiếp tục quan tâm, đề ra chủ trương, chính sách, các giải pháp giải quyết có hiệu quả những vấn đề nêu trên qua từng năm tin tằng mục tiêu Nghị quyết Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XVIII là đến 2015 Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp là hoàn toàn khả thi.

Tài liệu tham khảo:
- Báo cáo 15 năm phát triển KCN tỉnh Bắc Ninh;
- Niên giám thống kê 2007- 2011;
- Bắc Ninh số liệu thống kê chủ yếu thờì kỳ 1997-2011