Khó khăn cả trong và ngoài
Sản phẩm CNNT vốn là mặt hàng đặc sản có chất lượng cao, mang tính đặc trưng cho từng vùng, miền. Vì có đặc trưng như vậy, nên không ít sản phẩm CNNT chỉ được bộ phận nhỏ người tiêu dùng biết đến, trên một phạm vi địa lý có giới hạn. Bên cạnh khó khăn chung của nền kinh tế, việc bị giới hạn bởi tập hợp người tiêu dùng là khó khăn chung nhất của không ít doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNNT.
Khó khăn nội tại của kinh tế cả nước với sức mua thấp, lãi suất cao, doanh nghiệp khó vay vốn,… vẫn tiếp tục tác động bất lợi đến tình hình sản xuất của nhiều doanh nghiệp. Lượng hàng sản xuất ra tồn kho với số lượng lớn. Việc thiếu đơn đặt hàng đã khiến không ít doanh nghiệp rơi vào tình trạng buộc phải thu hẹp sản xuất. Không những vậy, các thị trường truyền thống ngày càng thắt chặt hơn những rào cản về thương mại nên thị phần đã bị giảm đáng kể. Ngoài ra, một khó khăn không thể bỏ qua chính là hệ thống phân phối hàng hóa chưa được quan tâm để phát triển đồng bộ. Nhiều chợ tạm, chợ đã xuống cấp nhưng chưa được đầu tư xây mới.
Tình trạng hàng giả, hàng nhái nhãn hiệu, hàng kém chất lượng còn trà trộn trên thị trường. Công tác quản lý việc niêm yết giá và bán theo giá niêm yết chủ yếu thực hiện tại các siêu thị, còn các chợ tình trạng niêm yết giá nhưng bán không theo giá niêm yết vẫn còn phổ biến; việc tổ chức các phiên chợ hàng Việt tại khu dân cư chỉ hướng vào mục đích bán hàng, chưa tạo được sức lan toả mạnh mẽ. Sự phối hợp trong công tác xúc tiến đầu tư và hoạt động xúc tiến thương mại có phần hạn chế, nên chưa thực sự hỗ trợ được nhiều cho doanh nghiệp trong quảng bá, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá.
Nội tại các doanh nghiệp cũng đã có những khó khăn. Việc thu hẹp sản xuất khiến doanh nghiệp làm ăn cầm chừng, thiếu lực để đầu tư phát triển nguồn nhân lực tay nghề cao. Hơn nữa hiện nay, công tác đào tạo lao động tay nghề cao cũng còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng thiếu lao động, nhất là lao động qua đào tạo....
Tạo cầu nối với các kênh phân phối
Theo Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa, những mặt hàng CNNT vốn là những mặt hàng truyền thống, ưu điểm có tính trường tồn cao, nhưng khả năng tiếp cận với thị trường còn nhiều hạn chế, cần sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nhà quản lý, nhà phân phối, nhà sản xuất và đặc biệt là ý thức của người tiêu dùng. Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa cho biết: "Chúng tôi đẩy mạnh cuộc vận động người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam để những sản phẩm đó có chỗ đứng. Ngoài ra, chúng tôi sẽ tăng cường liên kết hệ thống phân phối trong nước nói chung và hệ thống phân phối hiện đại nói riêng. Chúng tôi cũng đã làm việc với những nhà phân phối lớn trong cả nước, thì các nhà phân phối đều cam kết sẽ đưa những sản phẩm này vào hệ thống phân phối, sẽ tạo không gian trưng bày để người tiêu dùng dễ nhìn thấy. Ngoài ra, chúng tôi sẽ tăng cường việc quảng bá trong chương trình xúc tiến thương mại quốc gia nói chung, tăng cường sự hỗ trợ từ các sở công thương để cụ thể hóa các cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp."
Trong Hội nghị "Chắp nối cung cầu hàng hóa giữa các cơ sở sản xuất CNNT với kênh phân phối hàng hóa nội địa truyền thông và hiện đại" do Vụ Thị trường trong nước - Bộ Công Thương tổ chức, một số giải pháp đưa người tiêu dùng đến gần hàng nội địa được đưa ra:
1. Hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước về thương mại, bảo đảm hoạt động thương mại phát triển lành mạnh và bền vững; nâng cao khả năng tự điều chỉnh của thị trường trong nước khi thị trường thế giới biến động.
2. Phát triển đa dạng các loại hình kết cấu hạ tầng thương mại, kết hợp hài hoà giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của thị trường trên từng địa bàn (khu vực, vùng, miền và cả nước).
3. Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các hộ kinh doanh, đặc biệt là các hợp tác xã thương mại; đồng thời tạo điều kiện hình thành và phát triển một số tập đoàn thương mại mạnh, có đủ sức cạnh tranh và điều kiện để hợp tác hiệu quả với các tập đoàn phân phối nước ngoài khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ phân phối
4. Phát triển đa dạng các loại hình và phương thức kinh doanh thương mại hiện đại khác như: Sàn giao dịch hàng hoá, trung tâm đấu giá, nhượng quyền kinh doanh, thương mại điện tử...
5. Xây dựng tiêu chuẩn và hướng dẫn phát triển các loại hình tổ chức kinh doanh thương mại làm cơ sở cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp, phục vụ cho công tác quản lý nhà nước và định hướng cho người tiêu dùng lựa chọn nơi mua sắm.
6. Phát triển nguồn nhân lực thương mại có kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ kinh doanh hiện đại và chuyên nghiệp, theo kịp yêu cầu phát triển của thương mại trong nước trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Khuyến khích các doanh nghiệp thành lập các hiệp hội bán buôn, bán lẻ, chợ, siêu thị (chú trọng thu hút các hộ kinh doanh tham gia) nhằm giúp các hội viên chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin, tìm kiếm cơ hội, tạo mối liên doanh liên kết, hỗ trợ công tác xúc tiến thương mại trong nước, đẩy mạnh hoạt động xây dựng và quảng bá thương hiệu….
8. Tiếp tục triển khai Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” gắn với thực hiện Chương trình xúc tiến thương mại nội địa
9. Chủ động áp dụng các biện pháp cần thiết để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều hành thị trường, trong đó tập trung nâng cao chất lượng công tác thông tin, dự báo, phân tích diễn biến cung - cầu, giá cả thị trường; nâng cao chất lượng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng và thực thi các giải pháp can thiệp kịp thời khi thị trường có dấu hiệu bất ổn, bảo đảm cân đối cung - cầu các mặt hàng trọng yếu.
10. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; xử lý nghiêm các hành vi gian lận thương mại, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, hàng vi phạm sở hữu công nghiệp để bảo đảm lợi ích của người tiêu dùng, doanh nghiệp và Nhà nước .