Tham gia sân chơi toàn cầu đòi hỏi tư duy và tầm nhìn của các nhà quản lý ở tầm vĩ mô, trung gian, kể cả tầm vi mô phải được đổi mới một cách căn bản, chuyển sang tư duy toàn cầu. Tư duy toàn cầu sẽ mở đường và định hướng cho sự tham gia một cách có hiệu quả và đóng góp ngày càng tăng của doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam vào mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu/chuỗi giá trị toàn cầu, nhằm giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh khốc liệt, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.
Nhiều công trình nghiên cứu kinh tế đã chỉ ra rằng, lợi ích khi trở thành một bộ phận của mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu/chuỗi giá trị toàn cầu đem lại có thể gấp 10-20 lần nếu chỉ do quá trình tự do hoá thương mại thuần tuý đem lại. Đối với các doanh nghiệp tại các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam khi trở thành bộ phận của GPPDN/GVC là một yếu tố quan trọng để tiếp nhận công nghệ cao, để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm và dịch vụ, tối đa hóa những lợi ích của hội nhập quốc tế.
Chủ thể chính trong hội nhập kinh tế quốc tế là các doanh nghiệp và do vậy, trong điều kiện các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ, yếu về mọi mặt cần phải có chiến lược thu hút và tham gia vào mạng lưới hoạt động của các công ty đa quốc gia và công ty xuyên quốc gia (MNC & TNC) theo cách là vệ tinh - nhà thầu phụ, là “mắt xích” trong hệ thống phân công lao động nội bộ, hệ thống phân phối, xúc tiến thương mại của các MNC lớn & TNC trên thế giới để từ đó mà trưởng thành và phát triển vững mạnh trong môi trường toàn cầu hoá. Mặt khác, một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam, trong quá trình cọ sát với cạnh tranh quốc tế, có thể tìm thấy con đường liên kết tự nguyện dưới hình thức mua bán và sáp nhập (M&A) để tích tụ, tập trung phát triển quốc tế hóa hoạt động và vươn lên quản trị các chuỗi giá trị xuyên biên giới... Việc nghiên cứu cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu càng cho thấy sự cần thiết phải tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam vào GVC. Việc tăng cường năng lực tham gia của doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam trong GVC để tiếp thu và tích hợp công nghệ, nhanh chóng vươn lên các nấc thang giá trị cao hơn ở khâu đầu và khâu cuối trong chuỗi giá trị toàn cầu và đây còn có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam sau gia nhập WTO.
Công trình nghiên cứu khoa học với chủ đề “Giải pháp tăng cường sự tham gia của Việt Nam trong mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu sau khi Việt Nam gia nhập WTO” của tác giả TS. Nguyễn Thị Nhiễu thuộc Viện Nghiên cứu Thương mại (Bộ Công Thương) là một công trình được Bộ Công Thương đánh giá cao. Công trình nhằm xây dựng năng lực cạnh tranh của quốc gia, của sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế trong môi trường toàn cầu hoá. Công trình được thực hiện năm 2007, khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Có thể coi đây là một căn cứ khoa học để Bộ Công Thương và các Bộ, ngành khác như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ NN&PTNT, cộng đồng các doanh nghiệp… cùng nghiên cứu để xây dựng chiến lược phát triển thương mại theo chiều sâu, thực hiện sự kết hợp giữa chiến lược phát triển thương mại với chiến lược đầu tư và phát triển công nghiệp một cách hiệu quả nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững kinh tế - xã hội Việt Nam trong môi trường toàn cầu hóa. Từ đó có thể hoạch định các chiến lược, chính sách phù hợp cho việc tăng cường năng lực tham gia GVC của Việt Nam. Đồng thời, đề tài cũng gợi mở hướng nghiên cứu chuyên sâu về tăng cường năng lực cho các đối tượng là doanh nghiệp và sản phẩm cụ thể trong tham gia GPDN/GVC.
Trong quá trình phân tích, Công trình đã chỉ ra những điểm yếu và khó khăn hạn chế của Việt Nam trong tham gia GPDN hiện nay. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, phần lớn đều trong tình trạng công nghệ lạc hậu, quy mô vốn nhỏ, dịch vụ kém. Thêm vào đó là năng lực, trình độ chuyên môn yếu cả về đội ngũ lao động cũng như trình độ năng lực quản trị của lãnh đạo doanh nghiệp. Hơn nữa, các doanh nghiệp lại thiếu sự hợp tác và liên kết, vì vậy càng bị thua thiệt hơn trước môi trường cạnh tranh toàn cầu...
Còn đối với năng lực cạnh tranh quốc gia, đó là những yếu kém và hạn chế về năng lực thể chế và năng lực chuyên môn quản lý, điều hành vĩ mô nền kinh tế... Sau khi phân tích bối cảnh và điều kiện mới của môi trường kinh doanh quốc tế và sự phát triển mới của các GPDN/GVC, đồng thời khẳng định quan điểm phải tăng cường năng lực tham gia của doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam trong GPDN, coi đó là con đường tất yếu và là một động lực của phát triển kinh tế- xã hội đất nước, công trình đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện mục tiêu này. Công trình đặc biệt quan tâm đề xuất các giải pháp vĩ mô, coi việc thực hiện các giải pháp này là điều kiện tiền đề để hậu thuẫn và tạo thuận lợi cho sự tham gia tích cực và hiệu quả của doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam trong GPDN. Đó là các giải pháp về (1) đổi mới nhận thức và tư duy trong môi trường toàn cầu hoá; (2) lựa chọn chiến lược tham gia GPDN; (3) nâng cấp và phát triển hạ tầng cơ sở; (4) phát triển nguồn nhân lực; (5) hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tăng cường liên doanh liên kết, tham gia và trở thành những mắt xích quan trọng của GPDN/GVC của các TNC/MNC...
Giải pháp đối với các doanh nghiệp tập trung vào (1) hoạch định và thực hiện chiến lược sản xuất, kinh doanh; (2) đẩy mạnh liên kết và hợp tác; (3) nỗ lực củng cố, nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, năng lực quản lý, chất lượng dịch vụ, xây dựng và phát triển thương hiệu, chủ động, tích cực mở rộng hoạt động trên phạm vi toàn cầu...
Với việc tham gia thị trường thế giới chủ yếu dưới hình thức gia công, lắp ráp hay xuất khẩu sản phẩm cơ bản, Việt Nam chưa có được vị trí chắc chắn như những mắt xích không thể thiếu của GPDN/GVC và giá trị gia tăng còn rất thấp, trong khi Việt Nam chưa có nổi một thương hiệu trên thị trường toàn cầu.
Thực trạng trình độ tham gia thấp, năng lực tham gia yếu và thiếu định hướng chiến lược trong tham gia GPDN/GVC đã hạn chế rất nhiều đến việc nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế cũng như việc tranh thủ tối đa các nguồn ngoại lực cho phát triển kinh tế xã hội đất nước. Các giải pháp về nâng tầm tư duy và nhận thức của nhà lãnh đạo và quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và người dân cho phù hợp với môi trường toàn cầu hóa, chủ động chiến lược tham gia GVC, chủ động đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng tác phong công nghiệp, tăng cường hợp tác và liên kết, nâng cao mức độ sẵn sàng công nghệ... được đánh giá là có giá trị tham khảo và ứng dụng tốt nhằm tăng cường năng lực tham gia của Việt Nam trong GPDN/GVC.