Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh
phát biểu khai mạc Hội nghị. Ảnh: Đức Trung (MPI Portal)
Những đóng góp lớn với nền kinh tế
Trong 20 năm qua, với các chính sách ưu đãi, những điều kiện thuận lợi về kết cấu hạ tầng và thủ tục hành chính giản đơn, các KCN, KCX đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Số dự án và tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được tăng lên trong giai đoạn đầu (1991-1995) và đặc biệt tăng trưởng với tốc độ cao trong các kỳ kế hoạch 5 năm 1996–2000 và 2001-2005. Nếu trong kế hoạch 5 năm 1991-1995, khi các KCN, KCX đang trong quá trình triển khai xây dựng, số dự án có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút được mới đạt 155 dự án với tổng vốn đăng ký 1,6 tỷ USD, thì trong kế hoạch 5 năm 1996–2000, số dự án tăng thêm đạt 588 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 7,2 tỷ USD, tăng gấp 3,8 lần về số dự án và 4,65 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so với kế hoạch 5 năm 1991–1996. Số dự án tăng thêm trong kế hoạch 5 năm 2001–2005 là 1.377 dự án với tổng vốn đầu tư tăng thêm đạt 8,1 tỷ USD, tăng gấp 2,34 lần về số dự án và 12% về tổng vốn đầu tư so với kế hoạch 5 năm 1996 – 2000. Số dự án và tổng vốn đầu tư tăng thêm trong kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 là 1.860 dự án và 36,8 tỷ USD, tăng 1,35 lần số dự án và 4,5 lần vốn đầu tư so với kỳ kế hoạch trước.
Tính đến cuối tháng 12/2011, các KCN, KCX đã thu hút được 4.113 dự án có vốn đầu tư nước ngoài còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 59,6 tỷ USD, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 27 tỷ USD, bằng 45% tổng vốn đầu tư đăng ký. Hàng năm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào KCN, KCX chiếm từ 35 - 40% tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong đó các dự án FDI về sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp cả nước.
Riêng trong năm 2011, tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã đăng ký vào các KCN, KCX đạt 6,5 tỷ USD; tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 7,3 tỷ USD; tương đương 44% và 67% tổng vốn FDI đăng ký và thực hiện của cả nước trong năm 2011.
Ngoài những đóng góp đáng kể trong thu hút đầu tư nước ngoài, KCN, KCX còn là một trong những giải pháp để thực hiện chủ trương phát huy nội lực của các thành phần kinh tế trong nước. Nếu như trong kế hoạch 5 năm 1991 – 1995, chỉ có gần 50 dự án đầu tư trong nước đầu tư vào các KCN, KCX, thì đến kế hoạch 5 năm 1996 – 2000 số dự án trong nước đã tăng thêm đạt 450 dự án, tăng 9 lần so với kế hoạch 5 năm 1991–1995, kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 thu hút được 1.870 dự án, tăng gấp 4,16 lần so với kỳ kế hoạch 5 năm 1996-2000; kế hoạch năm 2006-2010 thu hút được 2.010 dự án, tăng 7,5% so với kỳ kế hoạch 5 năm trước. Tổng vốn đầu tư trong nước tăng thêm tương ứng trong các thời kỳ kế hoạch là 200 tỷ đồng (1991-1995), 35.000 tỷ đồng (1996-2000), 80.000 tỷ đồng (2001-2005) và 218.860 tỷ đồng (2006-2010). Trong các kỳ kế hoạch 5 năm, xu hướng gia tăng đầu tư trong nước vào KCN, KCX ngày càng rõ rệt, đặc biệt là từ năm 2004, số dự án trong nước còn hiệu lực đầu tư vào các KCN, KCX đã vượt số dự án đầu tư nước ngoài. Đến cuối tháng 12/2011, có 4.681 dự án trong nước còn hiệu lực trong KCN, KCX với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 420 nghìn tỷ đồng, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 210 nghìn tỷ đồng (bằng 50% tổng vốn đầu tư đăng ký).
Thực tế 20 năm xây dựng và phát triển cho thấy, các KCN, KCX đã có những đóng góp ngày càng lớn vào việc nâng cao tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp trong GDP của cả nước. Giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX đều tăng dần qua các năm, đặc biệt trong kế hoạch 5 năm 1996-2000 và 2001-2006, tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp trong KCN, KCX đều vượt so với tốc độ gia tăng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX thời kỳ 1996 – 2000 đạt khoảng 9,5 tỷ USD, tăng bình quân khoảng 20%/năm (tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân trên cả nước đạt 12%). Giá trị sản xuất công nghiệp của các KCN, KCX tạo ra trong thời kỳ 2001 – 2005 đạt khoảng 44,4 tỷ USD, tăng bình quân khoảng 32%/năm; trong thời kỳ 2006-2010 đạt khoảng 125 tỷ USD, tăng bình quân 24%/năm (tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân cả nước trong 2 thời kỳ đạt khoảng 15-16%). Tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp của các doanh nghiệp KCN, KCX trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước đã tăng lên đáng kể theo các năm: từ mức khoảng 8% năm 1996 lên 14% năm 2000, 28% năm 2005 và 32% vào năm 2010.
Trong điều kiện nước ta hiện nay còn nhiều người trong độ tuổi lao động thiếu việc làm ổn định đặc biệt là ở khu vực nông thôn hiện nay, việc thu hút một lực lượng lớn lao động vào các KCN, KCX, trong đó có một phần đáng kể lao động nông thôn dư thừa là một đóng góp lớn về mặt xã hội của các KCN, KCX.
Lực lượng lao động trong KCN, KCX gia tăng cùng với sự gia tăng các KCN, KCX và các dự án hoạt động trong KCN, KCX. Trong thời kỳ 2001-2005, các KCN, KCX đã thu hút thêm được 656.000 lao động trực tiếp, gấp 4 lần so với thời kỳ trước (1991-2000). Từ năm 2006 đến 2010, lượng lao động KCN, KCX tăng thêm được gần 760.000 người, gấp 1,15 lần lượng lao động tăng thêm trong kỳ kế hoạch 2001-2006. Tính đến 12/2011, các KCN, KCX đã giải quyết việc làm cho hơn 1,76 triệu lao động trực tiếp.
Những hạn chế và định hướng phát triển
Tuy nhiên, là một mô hình mang tính đặc thù vừa triển khai vừa điều chỉnh, hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thực tế theo từng giai đoạn phát triển, các KCN, KCX vẫn còn bộc lộ những mặt hạn chế, những khó khăn cần phải tiếp tục nghiên cứu, khắc phục trong thời gian tới. Khó khăn, hạn chế của các KCN, KCX có thể tổng hợp trên các mặt chủ yếu sau đây:
1. Chất lượng công tác quy hoạch KCN và triển khai thực hiện Quy hoạch đã được phê duyệt còn chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển.
2. Hàm lượng công nghệ, tính phù hợp về ngành nghề trong cơ cấu đầu tư chưa cao.
3. Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, xây dựng kết cấu hạ tầng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc.
4. Công tác bảo vệ môi trường KCN còn bất cập.
5. Vấn đề lao động-việc làm, đời sống công nhân trong KCN, KCX còn nhiều khó khăn.
6. Cơ chế, chính sách đối với KCN, KCX vẫn còn nhiều điểm vướng mắc cần tiếp tục hoàn thiện.
Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, khắc phục những khó khăn vướng mắc, cản trở đối với sự phát triển của các KCN, trong thời gian tới, các KCN cần xây dựng và phát triển theo một số định hướng cơ bản sau:
1. Nâng cao chất lượng quy hoạch KCN
- Xây dựng, triển khai quy hoạch KCN gắn với thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp, quy hoạch đô thị, quy hoạch khu dân cư, quy hoạch nhà ở và các quy hoạch ngành.
- Quy hoạch tổng thể KCX, KCN cần tính toán tiềm năng, lợi thế quốc gia, vừa đánh giá đúng tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, từng ngành để tạo ra một sự liên kết chặt chẽ đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh của KCN trên cấp độ địa phương và quốc gia.
- Phát triển về số lượng và quy mô KCN cần phù hợp và hài hoà với điều kiện phát triển thực tế của địa phương, đảm bảo hiệu quả sử dụng đất KCN, kiên quyết không phát triển KCN trên đất nông nghiệp có năng suất ổn định.
2. Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng KCN
- Nâng cao chất lượng xây dựng kết cấu hạ tầng KCN theo hướng xây dựng một cách đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật với hệ thống tiện nghi, tiện ích công cộng phục vụ cho KCN; gắn kết cấu hạ tầng trong hàng rào vào ngoài hàng rào KCN, hướng tới hình thành nhiều KCN có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, nâng cao khả năng cạnh tranh với các quốc gia trong khu vực.
- Huy động các nguồn vốn để đầu tư xây dựng nhà ở cho người lao động và các công trình tiện nghi, tiện ích cho KCN; điều chỉnh, bổ sung cơ chế khuyến khích, hỗ trợ và phát huy tính chủ động của địa phương trong việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội phục vụ cho phát triển kết cấu hạ tầng KCN.
3. Cải thiện chất lượng thu hút đầu tư vào KCN
- Tập trung ưu tiên thu hút các ngành nghề, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ tiên tiến, thâm dụng vốn, thân thiện với môi trường, các ngành nghề xác định là mũi nhọn phát triển và có lợi thế của Việt Nam. Tăng cường tính liên kết ngành trong phát triển KCN để hình thành các KCN liên kết ngành (clusters) nhằm tăng lợi thế cạnh tranh của KCN và nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, dần hình thành các ngành công nghiệp phụ trợ, đóng góp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng nâng cao tỷ trọng giá trị gia tăng ngành công nghiệp trong tổng giá trị gia tăng của địa phương.
- Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến đầu tư thống nhất trên phạm vi cả nước, tập trung xúc tiến đầu tư theo vùng để tăng cường hiệu quả, tránh chồng chéo. Thực hiện xúc tiến đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung ưu tiên một số đối tác lớn, quan trọng và những ngành nghề, lĩnh vực lợi thế của Việt Nam.
4. Kiểm soát chặt chẽ vấn đề môi trường
- Tăng cường giám sát, thanh, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về môi trường trong các KCN gắn với việc xử lý vi phạm một cách kiên quyết, dứt điểm; đồng thời xem xét điều chỉnh các chế tài để đảm bảo tính răn đe đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường.
- Nâng cao năng lực quản lý và kỹ thuật về môi trường cho các cơ quan liên quan đến KCN (Ban Quản lý các KCN, Sở TN&MT, Cảnh sát môi trường) để tạo điều kiện cho các cơ quan quản lý có đầy đủ nguồn lực thực hiện nhiệm vụ về bảo vệ môi trường KCN.
5. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm cải thiện điều kiện lao động, hỗ trợ đời sống vật chất, tinh thần của người lao động trong KCN phù hợp với điều kiện thực tế của đất nước.
- Chú trọng, đào tạo nghề cho thanh niên khu vực nông thôn, nhất là các vùng nông thôn bị thu hồi đất làm KCN; xây dựng chiến lược tổng thế quốc gia về phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa; xây dựng đội ngũ lao động có tác phong công nghiệp, có trình độ, kỹ năng, kỷ luật lao động ngày càng được nâng cao.
6. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển KCN
Điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách hiện hành về KCN, KKT theo hướng tăng cường phân cấp, ủy quyền từ Trung ương tới địa phương, gắn chặt với cơ chế phân công trách nhiệm và phối hợp rõ ràng, minh bạch giữa các cơ quan Trung ương và địa phương; có cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra thường xuyên với các chế tài xử phạt thích đáng đối với các trường hợp vi phạm.
Kiện toàn bộ máy quản lý Nhà nước ở cấp Trung ương và địa phương đảm bảo đủ thẩm quyền và nguồn lực để quản lý các KCN, KCX theo hướng một cửa, một đầu mối và tương xứng với vai trò vị trí ngày càng quan trọng của các KCN, KCX trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
>>Chính sách và thực tiễn phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam
