Thị trường chứng khoán bắt đầu chu kỳ tăng tốc và nâng tầm chất lượng

Những ngày đầu năm 2018, giới đầu tư cũng như các chuyên gia chứng khoán đều hồ hởi vui mừng khi chỉ số VN-Index vượt 1.000 điểm và đang hướng tới đỉnh cao lịch sử 1.179 điểm.

Tuy nhiên việc so sánh điểm số thuần túy như vậy không khác mấy việc so sánh một đứa trẻ béo với một người trưởng thành chỉ dựa trên cân nặng, trong khi bản chất con người hoàn toàn khác nhau. Thị trường chứng khoán 2018 cũng vậy, đã trưởng thành lên một cấp độ hoàn toàn khác so với thời điểm 2008 kể cả khi VN-Index còn xa mới đạt đỉnh cao cũ.

Năm 2017 thị trường chứng khoán Việt Nam lần đầu tiên lọt vào nhóm các thị trường tăng trưởng mạnh nhất thế giới khi chỉ số đại diện là VN-Index đạt mức tăng trưởng 48% và HNX-Index tăng trưởng 46%.

Đối với một thị trường chứng khoán cận biên (frontier market) thì tốc độ tăng trưởng như vậy không hẳn là đặc biệt. Tuy nhiên nếu đánh giá từ góc độ nền tảng vĩ mô của thị trường chứng khoán thì năm 2017 đánh dấu thời điểm bước vào chu kỳ tăng tốc tăng trưởng của một thị trường đang đạt đến quy mô của thị trường mới nổi. Các yếu tố cơ sở kinh tế của thị trường chứng khoán đều đạt đến một chất lượng mới và thay đổi về chất.

Nền kinh tế tăng tốc

Thị trường chứng khoán được xem là hàn thử biểu của một nền kinh tế và nếu thị trường chứng khoán tăng trưởng vượt xa các yếu tố cơ sở của nền kinh tế thì đó là một thị trường bong bóng. Khi thị trường chứng khoán Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng nhanh chưa từng thấy trong năm 2017, cũng đã có những lo ngại về độ nóng của thị trường lặp lại thời điểm cách đây đúng 1 thập kỷ, năm 2007. Mặc dù vậy nếu xét đến các yếu tố cơ bản vĩ mô, thị trường chứng khoán chỉ là đang phản ánh trước những thay đổi nhìn thấy được.

Năm 2017, tốc độ tăng trưởng GPD của Việt Nam đã làm ngỡ ngàng nhiều tổ chức quốc tế lẫn các chuyên gia kinh tế khi đạt 6,81%. Tốc độ tăng trưởng cao nhất 10 năm này không phải đột xuất đạt được, mà đã có sự tích lũy từ nhiều năm trước khi Việt Nam phải chật vật hàn gắn lại những tổn thương của nền kinh tế chịu ảnh hưởng lớn từ khủng hoảng tài chính toàn cầu và chỉ đạt tốc độ tăng trưởng trung bình. Mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP năm 2017 vẫn chưa bằng tốc độ tăng trưởng thời kỳ trước năm 2017, nhưng xét về quy mô của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng hiện tại đã ở một cấp độ hoàn toàn khác.

Trước năm 2007 tăng trưởng GDP liên tục đạt trên 7-8% mỗi năm nhưng đó là với quy mô của một nền kinh tế dưới 100 tỷ USD. Chỉ từ năm 2010 đến nay, nền kinh tế Việt Nam mới đạt quy mô tăng dần và năm 2017 đạt mức 220 tỷ USD. Mức GDP bình quân đầu người trong 10 năm cũng từ mức dưới 1.200 USD lên 2.385 USD năm 2017.

Kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2017 cũng đạt kỷ lục trong vòng 10 năm, với gần 424,9 tỷ USD, trong đó xuất siêu đạt 2,67 tỷ USD. Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam ghi nhận mức kỷ lục trong vòng 10 năm. Vốn FDI đăng ký đạt 35,88 tỷ USD, cao nhất kể từ năm 2009. Trong khi đó, vốn FDI thực hiện lên tới 17,5 tỷ USD, cũng xác lập kỷ lục 10 năm.

Trong khi tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì cao, dòng vốn đầu tư đổ vào khổng lồ thì Việt Nam cũng đặc biệt thành công trong việc kiểm soát lạm phát. Chỉ số giá tiêu dùng CPI bình quân cả năm 2017 tăng 3,53%, hoàn thành mục tiêu kiểm soát lạm phát dưới 4% trong năm nay.CPI bình quân năm 2017 tăng chủ yếu là do các địa phương điều chỉnh giá dịch vụ y tế, dịch vụ khám chữa bệnh.

Chỉ cần điểm qua một số chỉ báo chính như trên cũng có thể thấy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế năm 2017 cao nhưng bao hàm yếu tố bền vững, khác biệt so với chu kỳ bong bóng 2007.

Thị trường chứng khoán trưởng thành tuổi 18

Nếu như các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế hội tụ đầy đủ các dấu hiệu tăng trưởng bền vững thì thị trường chứng khoán đạt tốc độ tăng trưởng cao cũng là điều hợp lý. Nền kinh tế chỉ thực sự tăng trưởng tích cực với lạm phát thấp từ năm 2016 và thị trường chứng khoán Việt Nam cũng chỉ đạt tốc độ tăng trưởng cao từ thời điểm này.

Quả thực nếu so sánh tốc độ tăng trưởng hàng năm của chỉ số VN-Index với diễn biến tăng trưởng GDP thì có thể thấy thị trường chứng khoán đã bám sát các thay đổi của nền kinh tế. Năm 2009-2010 để hỗ trợ nền kinh tế sau khủng hoảng, các gói kích thích hỗ trợ lãi suất được tung ra và GDP tăng trưởng tương ứng 5,32% và 6,42%. Thị trường chứng khoán đã phản ứng trước nền kinh tế và VN-Index năm 2009 tăng trưởng tới 56,8%. Sang năm 2010 thị trường chứng khoán lại sụt giảm 2%, báo hiệu quá trình giảm tốc của nền kinh tế sau đó.

Trong 5 năm sau đó, thị trường chứng khoán Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ và các biện pháp tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng trưởng bền vững hơn chấp nhận hi sinh tốc độ tăng trưởng cũng được thực hiện. VN-Index trong năm 2011 giảm 27,5%; năm 2012 tăng 17,7%; năm 2013 tăng 22%; năm 2014 tăng 8,1%; năm 2015 tăng 6,1%.

Từ năm 2016 thị trường đã có bước tiến khác biệt với tốc độ tăng được duy trì, từ mức tăng14,8% năm 2016 lên 48% năm 2017. Kể từ sau 2007, chưa có giai đoạn nào thị trường chứng khoán duy trì được tốc độ tăng trưởng tăng tốc liên tục cao như vậy.

Cũng giống như tốc độ tăng trưởng 6,81% GDP trên cơ sở quy mô nền kinh tế vượt bậc trị giá 220 tỷ USD, thị trường chứng khoán cũng đạt mức tăng trưởng vượt bậc 48% trên cơ sở quy mô thị trường cổ phiếu đạt gần 3.515 nghìn tỷ đồng, tương đương 70% GDP, vượt chỉ tiêu đặt ra cho năm 2020. Quy mô thị trường đã tăng 80,5% so với cuối năm 2016.

Thị trường chứng khoán cũng đã thay đổi về chất so với năm 2007 với số lượng và chất lượng doanh nghiệp niêm yết thay đổi. Thay vì chỉ có vài trăm doanh nghiệp niêm yết vừa và nhỏ, năm 2017 đã có 737cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết và690cổ phiếu đăng ký giao dịch, trong đó gần 30 doanh nghiệp trị giá trên 1 tỷ USD vốn hóa. Quy mô thị trường sẽ còn tiếp tục tăng cao hơn nữa khi hàng loạt doanh nghiệp mới cổ phần hóa như Lọc hóa dầu Bình Sơn, PVOil… cũng sẽ lên sàn sau khi bán vốn. Các quy định mới về việc cổ phần hóa gắn với thị trường chứng khoán sẽ đưa tất cả các doanh nghiệp chất lượng nhất lên sàn chứng khoán.

Nếu như năm 2006-2007 thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng quy mô như một “đứa trẻ béo” thì sau 1 thập kỷ đã là một người trưởng thành. Quả thực thị trường chứng khoán hoàn toàn có thể tăng trưởng mạnh, thậm chí hình thành bong bóng khi dòng vốn vào quá nhiều trên cơ sở một thị trường quá nhỏ. Quy mô thị trường không đủ lớn để hấp thụ nguồn vốn đột xuất đó, tất yếu dẫn đến giá cổ phiếu tăng và quy mô thị trường tăng theo, nhưng hoàn toàn là tăng “ảo” và sẽ xẹp xuống khi dòng tiền rút ra. Hiện tại quy mô thị trường chứng khoán cũng dựa trên cơ sở giá cổ phiếu tăng, nhưng quy mô cốt lõi của thị trường cũng cao hơn nhiều, trên cơ sở có nhiều đại công ty niêm yết.

Chính vì vậy việc so sánh “độ nóng” của thị trường chứng khoán 2017 với 2007 là khập khiễng. Chỉ một yếu tố cơ bản và đơn giản nhất cũng cho thấy điều này: Đỉnh cao nhất trong lịch sử 2007 của chỉ số VN-Index là 1.179 điểm và đỉnh cao nhất của chỉ số này hiện tại chỉ là 1.062 điểm. Rõ ràng nếu chỉ nhìn vào VN-Index thì thị trường chứng khoán còn chưa đạt đến đỉnh cao thời kỳ 2007, nhưng quy mô thị trường thậm chí lớn gấp hàng chục lần. Chỉ số có thể so sánh, nhưng điều đó không hàm ý so sánh được về chất lượng của thị trường.

Quy mô cơ sở của thị trường chứng khoán tăng mới có khả năng hấp thụ được dòng vốn vào và duy trì dòng vốn đó ở lại. Năm 2017 thị trường đón nhận hơn 1,2 tỷ USD vốn gián tiếp vào ròng. Đây là lượng vốn lớn chưa từng có trong lịch sử thị trường, vượt xa cả năm 2007. Nhà đầu tư nước ngoài quan tâm tới thị trường Việt Nam cũng ở một cấp độ khác.

Nếu như thời kỳ 2006-2007 dòng vốn nước ngoài cảm thấy hấp dẫn ở một thị trường chứng khoán sơ khai như một vùng đất hoang vu thì hiện tại, thị trường chứng khoán Việt Nam lại hấp dẫn với các cơ hội chất lượng cao đạt đến tiêu chuẩn của một thị trường mới nổi. Chỉ cần nhìn vào các thương vụ bán vốn nhà nước hay mức vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có thể lý giải được tại sao dòng vốn đầu tư gián tiếp lại chảy vào thị trường chứng khoán nhiều như vậy.

Thị trường chứng khoán đang bước vào giai đoạn mới, giai đoạn tăng tốc tăng trưởng sau một thập kỷ chậm chạp do phải hàn gắn các tổn thương của khủng hoảng tài chính toàn cầu cũng như thời kỳ tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng tăng trưởng bền vững hơn.


Hoàng Nguyên