Đặc biệt, Thủ tướng nhấn mạnh, ngoài 289 doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa trong năm nay, các bộ, ngành cần tính toán đẩy nhanh hơn nữa, không chỉ trong cổ phần hóa doanh nghiệp, mà cần bán tiếp phần vốn Nhà nước ở những doanh nghiệp không cần nắm giữ, hiệu quả thấp; đẩy mạnh thoái vốn đầu tư ngoài ngành.
Sức ép tăng tốc
Không phải ngẫu nhiên sức ép được gia tăng đối với hoạt động cổ phần hóa, bán bớt phần vốn nhà nước. Nhiệm vụ nặng nề đã được xác định từ năm 2014 và càng nặng hơn trong năm 2015. Để hoàn thành riêng nhiệm vụ cổ phần hóa 289 doanh nghiệp nhà nước trong năm nay nghĩa là trung bình 1,3 ngày phải đưa ra bán đấu giá lần đầu một doanh nghiệp. Đó lại chỉ là sự kiện cuối cùng của một quá trình chuẩn bị kéo dài bằng nhiều tháng.
Số liệu của Ủy ban Chứng khoán nhà nước cho biết trong quý 1/2015, mới có 18 doanh nghiệp nhà nước thực hiện bán cổ phần lần đầu với khối lượng chào bán 100 triệu cổ phần, tỷ lệ cổ phần bán được là 40% với tổng số tiền thu về 805 tỷ đồng.
Những kết quả bước đầu đáng khích lệ nói trên vẫn chỉ là một phần rất nhỏ trong kế hoạch. Bản thân quá trình rà soát cũng làm tăng thêm gánh nặng nhiệm vụ phải thực hiện. Con số 289 doanh nghiệp phải cổ phần hóa trong năm 2015 là chưa tính đến số sẽ bổ sung theo tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước mới.
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2015 đã được các bộ, ngành, địa phương, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước tập trung thực hiện ngay từ đầu năm là căn cứ tiêu chí, danh mục phân loại doanh nghiệp nhà nước để rà soát bổ sung doanh nghiệp cần cổ phần hóa, thoái vốn trong năm 2015 và xây dựng phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2016-2020. Thủ tướng đã phê duyệt 19 phương án sắp xếp, trong đó bổ sung 106 doanh nghiệp phải cổ phần hóa năm 2015 và 109 doanh nghiệp cổ phần hóa giai đoạn 2016-2020.
Tăng trưởng kinh tế - lợi thế từ điểm xuất phát
Kết quả tăng trưởng GDP trong quý I/2015 đã khiến nhiều chuyên gia cũng như giới phân tích bất ngờ khi đạt tới 6,03%, cao nhất so với cùng kỳ trong vòng 5 năm vừa qua. Sự đột biến này đã dẫn đến khá nhiều nghi ngại về tính xác thực của số liệu, đặc biệt quý I lại có thời gian nghỉ lễ dài. Ngoài ra, số liệu thống kê về hoạt động xuất khẩu chỉ tăng 6,9%, thấp hơn nhiều con số 14% cùng kỳ năm ngoái.
Tuy nhiên những số liệu thành phần trong cơ cấu tăng trưởng GDP đều xác nhận những diễn biến tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo Tổng cục Thống kê, trong quý I/2015, hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ đều tăng trưởng tốt. Chẳng hạn giá trị gia tăng của khu vực công nghiệp tăng 8,35%; Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp tăng hơn 9%, gấp đôi cùng kỳ; Hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 2,55%, cao hơn con số 2,38% cùng kỳ.
Các hoạt động sản xuất kinh doanh tăng trưởng cũng phù hợp với các số liệu khảo sát từ bên ngoài. Chẳng hạn chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) do ngân hàng HSBC Việt Nam thực hiện thì ngay từ tháng 1/2015, nhu cầu khách hàng tăng lên trong khi các điều kiện thị trường tốt lên đã giúp cho số lượng đơn đặt hàng mới của các công ty ngành sản xuất tại Việt Nam tiếp tục tăng, chi phí đầu vào trong tháng 1/2015 cũng đã giảm mạnh nhất trong lịch sử khảo sát do giá nhiên liệu giảm. Do đó mặc dù mức tăng của PMI giảm xuống trong tháng, nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 50 điểm - ngưỡng thể hiện sự tăng trưởng. PMI tháng 2/2015 cũng khẳng định xu thế tăng trưởng khi số đơn đặt hàng mới tại các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam tăng mạnh trong tháng 2 với tốc độ nhỉnh hơn so với tháng 1. Số đơn hàng mới và sản lượng sản xuất tiếp tục tăng trong kỳ khảo sát tháng 3.
Ngân hàng ANZ từ giữa tháng 3/2015 cũng đã điều chỉnh dự báo tăng trưởng cho nền kinh tế Việt Nam khi nhận thấy sức cầu nội địa đã dần hồi phục sau một thời gian dài suy yếu. Cơ sở để ANZ nâng mức dự báo tăng trưởng GDP 2015 từ 6,2% lên 6,5% là tốc độ mở rộng hoạt động sản xuất công nghiệp đang tăng nhanh nhất kể từ khi phục hồi vào năm 2012; Tốc độ tăng trưởng thực tế doanh thu bán lẻ trong 2 tháng đầu năm 2015 đạt mức cao nhất trong vòng 5 năm; Chỉ số sản xuất công nghiệp dự báo tiếp tục tăng mạnh.
Những dự báo nói trên đã được phản ánh chính xác vào con số tăng trưởng GDP quý I/2015 của cả nước, tạo lợi thế xuất phát ngay từ đầu năm. Những thay đổi đáng chú ý trong hoạt động sản xuất kinh doanh là kết quả của một quá trình tích lũy “thoát đáy” của nền kinh tế, cho thấy nền kinh tế đang phục hồi và dần đi vào ổn định, phát triển. Điều này cũng phù hợp với những chính sách điều hành nhất quán trong thời gian dài trước đó theo hướng thúc đẩy tăng trưởng. Những chính sách này cần có thời gian mới phản ánh đầy đủ lên các số liệu tăng trưởng.
Nếu nhìn vào diễn biến của chỉ số PMI từ năm 2012 đến nay, cho đến tận tháng 8/2013, biến động của chỉ số này vẫn thất thường qua các tháng khảo sát, thể hiện sự thiếu chắc chắn trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Chẳng hạn chỉ số PMI tháng 11/2012 tăng lên trên mức 50 điểm - ngưỡng thể hiện sự tăng trưởng - thì các tháng sau đó lại sụt giảm xuống dưới mức này. Tháng 3 - tháng 4/2013 chỉ số này phục hồi, nhưng hai tháng sau đó lại rơi xuống dưới 50 điểm. Chỉ từ tháng 8/2013 trở đi, chỉ số này mới ổn định trên mức 50 điểm.
Triển vọng cho thị trường chứng khoán
Sự cải thiện của nền kinh tế vĩ mô luôn là tiền đề quan trọng nhất cho thị trường chứng khoán. Tăng trưởng của thị trường lại là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tạo cơ hội thuận lợi cho hoạt động cổ phần hóa, thoái vốn.
Quý I/2015 thị trường chứng khoán gặp những khó khăn nhất định. Chỉ số VNIndex sau khi tăng trưởng 8,5% trong hai tháng đầu năm đã lại sụt giảm 8,77% trong tháng 3. Như vậy thị trường đã không tăng trưởng trong quý đầu năm.
Nguyên nhân của hiện tượng này không xuất phát từ nội tại của nền kinh tế. Ngoài những con số tăng trưởng vĩ mô tốt trong quý I/2015, kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp niêm yết năm 2014 cũng ghi nhận tốt. Chẳng hạn số liệu từ Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội cho thấy năm 2014 có 321/358 doanh nghiệp niêm yết tại sàn này kinh doanh có lãi với tổng giá trị lãi đạt xấp xỉ 13.036 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2013. Các doanh nghiệp thuộc ngành khai khoáng và dầu khí có kết quả kinh doanh tốt nhất với 22 doanh nghiệp kinh doanh có lãi với tổng giá trị đạt 1.444 tỷ đồng. Tiếp đến là ngành công nghiệp với 98 doanh nghiệp kinh doanh lãi 1.404 tỷ đồng
Hiện tượng bất thường trong quý I/2015 của thị trường chứng khoán bắt nguồn từ những rủi ro liên quan đến giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh đồng USD mạnh lên. Dòng vốn nóng giá rẻ trên thị trường có dấu hiệu dịch chuyển. Biểu hiện là nhà đầu tư nước ngoài liên tục bán ra ở một số cổ phiếu có giá trị vốn hóa cao, từ đó ảnh hưởng xấu lên chỉ số VNIndex. Chỉ riêng tháng 3, dòng vốn ngoại chảy ra khỏi thị trường chứng khoán Việt Nam khoảng 790 tỷ đồng.
Rủi ro đồng USD mạnh được xem là rủi ro lớn nhất của thị trường trong năm 2015 vì điều này có thể dẫn đến việc tái phân bổ dòng vốn đầu tư trên toàn cầu chứ không riêng gì thị trường Việt Nam, trong đó một phần vốn đổ vào thị trường mới nổi trước đây sẽ được rút về.
Tuy nhiên, chỉ riêng dòng vốn đầu tư gián tiếp giá rẻ không làm nên toàn bộ thị trường. Yếu tố nền tảng của bất kỳ thị trường chứng khoán nào cũng là nội tại của nền kinh tế. Một nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng sẽ hấp dẫn dòng vốn đầu tư dài hạn và đó mới là điều cần thiết cho tăng trưởng ổn định, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động cổ phần hóa, thoái vốn.
Hướng tới việc thu hút dòng vốn dài hạn vào thị trường chứng khoán đang định hướng các chính sách lớn. Những ví dụ gần đây nhất là quá trình sửa đổi quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài theo hướng cởi mở hơn; giảm tỷ lệ nắm giữ của Nhà nước trong doanh nghiệp cổ phần hóa; làm chặt yêu cầu cổ phần hóa gắn với niêm yết…
Một thực tế đã được chứng minh trong tiến trình cổ phần hóa chậm chạp trong vòng 5 năm kể từ khi khủng hoảng kinh tế nổ ra và nền kinh tế Việt Nam chịu tác động mạnh. Để cổ phần hóa và thoái vốn thành công, thị trường cần phải có một nguồn lực đủ lớn để hấp thụ khối lượng hàng hóa đó. Điều cốt yếu dẫn đến khả năng thành công của các đợt bán phần vốn là huy động được nguồn lực xã hội hóa, từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một nền kinh tế tăng trưởng tốt mới tạo được sự hấp dẫn của các kênh đầu tư, trong đó có thị trường chứng khoán, từ đó dẫn đến sự định giá đúng, thậm chí là tích cực đối với các khoản đầu tư từ cổ phần hóa.
Kể từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam chạm đáy khủng hoảng năm 2009 đến nay, chưa có thời điểm nào mà cơ hội cho thị trường lại trùng hợp với những cải thiện rõ rệt và ổn định của nền kinh tế vĩ mô như lúc này. Đợt tăng giá đột ngột như nửa đầu năm 2009 hoàn toàn chỉ là hiệu ứng phụ của việc nới lỏng tiền tệ quá mức trong khi nền kinh tế chưa thực sự phục hồi. Hậu quả là thị trường chứng khoán rơi vào quá trình trì trệ tất yếu kéo dài đến tận đầu năm 2013.
Nếu nhìn từ một chu kỳ tăng trưởng/suy thoái dài hạn thì những biến động như trong quý I/2015 vừa rồi cũng chỉ là một nhịp nghỉ của một quá trình đi lên dài hạn tính bằng nhiều năm. Một xu thế dài hạn luôn đi cùng với yếu tố vĩ mô nền tảng. Những biến động sụt giảm ngắn hạn luôn xảy ra trong quá trình đi lên dài hạn này, nhưng chừng nào yếu tố vĩ mô chưa thay đổi thì những biến động đó không thể làm đảo ngược xu thế.
Tiến trình cổ phần hóa, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh đúng vào thời điểm nền kinh tế và thị trường chứng khoán có triển vọng tích cực. Quyết tâm chính trị phù hợp với điều kiện thị trường là tiền đề cực kỳ thuận lợi. Điều còn lại là những nỗ lực thực hiện. Chính vì thế không phải ngẫu nhiên mọi nỗ lực của Chính phủ đều được dồn lại, từ hoàn thiện thể chế cho đến đề cao trách nhiệm của người đứng đầu.
