1 - FDI và vấn đề "hai mặt"
Lịch sử cho thấy, FDI nói riêng, các nguồn vốn nước ngoài nói chung cũng còn nhiều vấn đề. Có không ít những dự án FDI không hiệu quả, công nghệ thấp, tàn phá môi trường... FDI cũng góp phần gây ra các bất ổn kinh tế vĩ mô. Ví dụ, FDI vào nhiều quá cùng với các luồng vốn khác trong điều kiện quản trị vĩ mô không tốt, gây ra cơn sốt ảo về bất động sản, hoặc khung tín dụng tăng, dẫn đến lạm phát...
Chúng ta đã có những bài học như thế. FDI chỉ là điều kiện cần thiết cho sự phát triển, song không phải là điều kiện đủ. FDI chứa đầy những rủi ro mà có hạn chế được hay không còn phụ thuộc vào sự phù hợp của chính sách và của điều tiết của Chính phủ. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài, từ năm1988 đến năm 2007, phía nước ngoài (cả vốn góp và vốn vay) đã đưa vào Việt Nam 37,9 tỷ USD, bằng 45% tổng vốn đăng ký cùng kỳ. Con số này có phần thấp do những dự án mới được cấp phép, trong một vài năm gần đây mới được giải ngân một phần. Đặc biệt, với con số 64 tỷ USD, vốn đăng ký đầu tư nước ngoài (FDI) được cấp phép trong năm 2008 là một kỷ lục.
Tuy nhiên, vốn đăng ký chưa nói lên điều gì. Đây chỉ là điều các nhà đầu tư nước ngoài và các bên cam kết, sẽ bỏ ra để thực hiện khi dự án được cấp phép. Do vậy, nó vẫn chỉ là vốn đăng ký trên giấy. Cái chúng ta cần là vốn thực “chảy” vào Việt Nam bao nhiêu mới có ý nghĩa đối với nền kinh tế. Hơn thế nữa, vốn đó “chảy” vào chỗ nào? mang lợi cho ai nhiều, ai sẽ “thiệt đơn, thiệt kép? Một số dự án được cấp phép, nhưng không triển khai được, bị rút giấy phép với số vốn chiếm khoảng 10% tổng vốn đăng ký. Trong vốn đăng ký có phần góp vốn của Việt Nam trong liên doanh, thường khoảng 30% và người ta tính, FDI chảy vào Việt Nam để thực hiện dự án chỉ bằng 54% tổng vốn đăng ký. Như vậy, tỷ lệ vốn thực hiện thấp và việc vốn FDI đưa vào Việt Nam để thực hiện dự án bằng khoảng một nửa vốn đăng ký là bình thường.
Việc cần nhất trong việc thu hút FDI là, xác định mục tiêu chiến lược hợp lý và giám sát đúng trọng tâm, đúng yêu cầu dài hạn của Nhà nước. Đặc biệt, về các nhân tố: ngành - lĩnh vực nào; công nghệ nào; từ nước nào; nhà đầu tư nào, nhằm mục tiêu phát triển cụ thể gì cho VN trong trung và dài hạn.
2 - Những cái lo về FDI
Sự mất cân đối trong lĩnh vực đầu tư là một vấn đề cấp thiết cần quan tâm. Các dự án đầu tư với nguồn FDI chủ yếu tập trung vào khai khoáng, dầu khí, sắt thép và bất động sản,... là những ngành gây ô nhiễm môi trường cao, lại cần nhiều diện tích..
2.1 - Khi nhiều dự án lớn đầu tư vào bất động sản
Một thực tế đáng lo là, các nhà đầu tư nước ngoài đang tăng mạnh đầu tư vào bất động sản (BĐS). Nếu như trước năm 2007, chỉ có 15% tổng vốn đăng ký vào BĐS, thì con số này từ năm 2007 trở lại đây là khoảng 30%. Tỷ trọng và quy mô dự án đầu tư lớn vào BĐS đã đặt cho các nhà quản lý phải tính ngay từ bây giờ để có những biện pháp, bước đi phù hợp, vừa phát huy điểm mạnh, vừa hạn chế những tác động tiêu cực của nó.
Các chuyên gia đã phân tích, nếu đầu tư nhiều vào BĐS sẽ làm cho việc cân bằng xuất nhập khẩu thêm khó khăn vì khi giải ngân các dự án này chỉ có nhập khẩu, không có xuất khẩu. Cân đối ngoại tệ sẽ phức tạp khi các nhà đầu tư nước ngoài chuyển thu nhập hợp pháp ra nước ngoài.
Những năm gần đây, việc đầu tư vào BĐS cũng góp phần làm cho nhiều nông dân rơi vào cảnh nghèo, tạo thêm tham nhũng, làm sai chế độ chính sách về đền bù giải phóng mặt bằng và là nguyên nhân gây nên nhiều cuộc khiếu kiện, phản đối của người dân khi bị mất đất, làm cho an sinh xã hội xấu đi. Bởi lẽ, dự án BĐS cần nhiều diện tích đất hơn các dự án thuộc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác.
Thêm nữa, dự án BĐS thường tập trung ở các khu đô thị, khu công nghiệp,nên phần lớn đất bị lấy làm dự án là đất nông nghiệp có giá trị cao “bờ xôi, ruộng mật”. Đời sống của người nông dân bị thu hồi đất đến nay vẫn chưa được giải quyết. Trong khi đó, nhà đầu tư FDI có quyền sử dụng đất tới 50 năm, thậm chí 70 năm, và điều này sẽ ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của VN. Như vậy, sự bất cập đã bộc lộ ngay ở khía cạnh xã hội khi lợi ích của người nông dân bị đe dọa (đất nông nghiệp bị thu hẹp, trong khi vấn đề đền bù và giải quyết việc làm vẫn chưa thỏa đáng); và tác động lâu dài về khía cạnh môi trường cũng rất rõ ràng. Đặc biệt, cần tránh những dự án bị thổi phồng về con số vốn đầu tư, về viễn cảnh lợi nhuận cho cả nước chủ nhà và nhà đầu tư. VN đã gặp không ít trường hợp này. Thực tế tới năm 2007 còn khoảng 70% doanh nghiệp FDI ở TP.HCM báo cáo lỗ là một minh chứng. Dù họ lỗ thật hay lỗ giả ,cũng đều đáng lo, đáng suy nghĩ. Chúng ta không thể buộc phải chấp nhận đánh đổi FDI bằng mọi giá. Đã đến lúc phải lấy lại niềm tin của nhân dân, đồng thời tạo môi trường hấp dẫn các ngành sản xuất có công nghệ cao, sản xuất ra nhiều hàng hoá có tính cạnh tranh cao, góp phần chống lạm phát, giảm nhập siêu. Xin đừng gắn cho FDI những gì mà nó không có để gây dựng được niềm tin.
2.2 - Chấp nhận FDI tốn đất, tàn phá môi trường, hủy hoại sức khoẻ người lao động?
Có người cho rằng, có thể phải chấp nhận một số loại hình đầu tư tốn đất, tàn phá môi trường, hủy hoại sức khoẻ người lao động vì chúng ta không có sự lựa chọn. Họ lý giải, nhân lực để đáp ứng các loại hình sản xuất công nghệ cao không có, cơ sở hạ tầng yếu kém, thủ tục hành chính còn phiền hà ….Và hơn 20 năm qua, FDI đóng góp khoảng 18% GDP, 36-37% giá trị xuất khẩu (nếu kể cả dầu thô là 55-56%), hơn 1/3 sản xuất công nghiệp, tạo được hơn 1,45 triệu công ăn việc làm trực tiếp và gián tiếp...
Vậy mà chúng ta đang phải chấp nhận những thứ đầu tư FDI mà các nước khác đã tẩy chay?. Ví dụ: đóng tàu là ngành độc hại, phá hoại môi trường nghiêm trọng, xét về kinh tế thì không hiệu quả. Singapore đã loại bỏ ngành này từ những năm 1960…
Chúng ta có thể lập luận như trên để làm “mờ” đi việc không thể đưa ra được các giải pháp khả thi để xử lý các vấn đề bất cập của FDI? Không thể chỉ cố gắng thu hút thật nhiều FDI mà không đặt lợi ích phát triển lâu dài của đất nước.
Hiện nay, dư luận xã hội đang đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại những dự án sử dụng quá lớn nguồn năng lượng, tài nguyên thiên nhiên, đất đai và nguồn nhân lực giá rẻ. Cần tính toán kỹ vì VN sẽ khó có khả năng đáp ứng, hoặc phải trả giá cao cho những yêu cầu này. Người ta đang tự hỏi, tại sao hiện nay không ít doanh nghiệp FDI đang hưởng trợ cấp của Nhà nước về các chi phí năng lượng và hạ tầng. Một số nhà đầu tư mới hoặc chuẩn bị đầu tư cũng có thể kỳ vọng như vậy, nhất là trong bối cảnh thế giới thiếu hụt nguồn năng lượng, tài nguyên và giá cả các thứ đó đang ngày càng leo thang .. Ngoài ra, cũng cần tránh những dự án có thể không phù hợp qui hoạch phát triển lâu dài của VN, tạo dư thừa công suất lớn mà khó có triển vọng khai thác, sử dụng hiệu quả như, sân golf, các khu công nghiệp, khu resort, khu du lịch cao cấp, khu đô thị lớn ở một số tỉnh dân số không đông, kinh tế chưa phát triển cao, cảng biển, nhà máy lọc dầu, nhà máy thép, xi măng... Cần đảm bảo các dự án này không phá vỡ quy hoạch phát triển chung và phải có căn cứ thật xác đáng về bài toán thị trường đầu ra, đặc biệt là xuất khẩu, thu ngoại tệ. Nếu không, riêng việc phải bán ngoại tệ cho họ để họ chuyển lãi và vốn ra nước ngoài khi đến hạn cũng sẽ là một gánh nặng lớn của nền kinh tế trong tương lai.
3 - Chúng ta làm gì với FDI “chảy” vào hay chỉ đứng nhìn?
Có người nói, đáng lẽ chúng ta cần phải học cách biết từ chối những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, thiết bị thải loại.... Cái giá phải trả không những chỉ là chi phí ban đầu để trở thành “bãi rác công nghệ”, mà còn không biết bao nhiêu hao tổn sau này về năng lượng, vật tư, môi trường... để nuôi dưỡng, và sản xuất ra những sản phẩm khó cạnh tranh và kìm hãm ta trong vòng lạc hậu?
Còn có những dự án do các đối tác đề xuất không có thực lực hoặc không nghiêm túc. Một số nhà đầu tư vào thương lượng xin giấy phép chỉ để bán lại, hoặc lợi dụng sự khao khát FDI của một số địa phương do thiếu thông tin và không biết điều tra đối tác. Loại này không những làm mất thời gian, công sức, chi phí theo đuổi dự án, mà còn làm mất cơ hội và uy tín của chủ nhà trước những nhà đầu tư đích thực. Cụ thế, dự án thép ở Thanh Hoá trị giá 10 tỷ USD đã qua mặt nhiều cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương. Nhiều người đang lo ngại và cảnh báo về những dự án theo kiểu “cướp ngân hàng” (như Ấn Độ). Đó là những nhà đầu tư ít vốn, dựa vào giấy phép hoặc đất được cấp để vay của các ngân hàng nội địa, vay xong thì lẩn tránh hoặc không thể thực hiện dự án, để lại hậu quả nặng nề cho những ngân hàng vốn đã chẳng giàu có gì lắm của nước chủ nhà. Ở ta cũng đã bắt đầu xuất hiện loại “cướp” này.. Đặc biệt, ngay trước mắt, chúng ta rất cần xem xét cẩn trọng các nguồn lực “đối ứng” ở trong nước để tiếp nhận các dự án FDI đang tăng lên nhanh chóng, nhất là với một số dự án qui mô hàng tỉ USD đang vào nhiều như hiện nay. Dù họ cam kết đầu tư 100% vốn của họ, song là chủ nhà, ta không thể chỉ đứng nhìn, để họ tự lo. Nếu muốn đáp ứng cho FDI, có thể chúng ta phải đầu tư thêm rất lớn trong khi nguồn lực còn hạn chế, hoặc phải “nhịn’ phần mình để dành cho họ, hoặc phải nhập từ bên ngoài vào, tất cả đều có giá phải trả. Liệu chúng ta có tính được hết cái giá đó, có tính được khả năng trả, và nền kinh tế cùng doanh nghiệp và người dân VN có sẵn sàng trả không? Đó là những vấn đề cần phải được nghiên cứu kĩ, thật cụ thể và học hỏi những bài học thành công cũng như thất bại của các nước khác để cải thiện việc thu hút và giám sát FDI một cách hiệu quả, phục vụ tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.
