Tóm tắt:
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam đang phát triển mạnh, với tổng doanh thu phí trong 4 tháng đầu năm ước đạt 74.889 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ.[1] Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập về môi trường pháp lý, điều tiết hoạt động, thanh tra, giám sát và giải quyết khiếu nại. Bài viết tập trung phân tích kết quả, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, hướng tới phát triển thị trường bảo hiểm bền vững.
Từ khóa: quản lý nhà nước, kinh doanh bảo hiểm, hiệu quả quản lý.
1. Khái quát chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
1.1. Một số khái niệm liên quan
Bảo hiểm được hiểu là quá trình chuyển giao rủi ro từ cá nhân hoặc tổ chức sang doanh nghiệp bảo hiểm;[2] hay là một kỹ thuật tài trợ rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đủ lớn các đơn vị có khả năng phát sinh tổn thất nhằm làm cho tổn thất trở nên có thể dự đoán được;[3] là biện pháp chuyển giao rủi ro được thực hiện thông qua hợp đồng bảo hiểm, trong đó bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.[4]
Còn hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài hoặc tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm vi mô chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm trên cơ sở thu phí bảo hiểm và thực hiện bồi thường, chi trả theo thỏa thuận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.[5] Hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm: kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, nhượng tái bảo hiểm và các hoạt động có liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm, dịch vụ phụ trợ bảo hiểm.[6] Trong đó, hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm các đặc điểm: (1) Là một loại hình tài chính đặc thù, phân phối rủi ro tài chính giữa các chủ thể trong nền kinh tế;[7] (2) Tiềm ẩn rủi ro cao cho doanh nghiệp bảo hiểm thay người tham gia gánh rủi ro tài chính;[8] (3) Là hoạt động kinh doanh có điều kiện về tài chính, vốn, nhân sự và tổ chức hoạt động nhằm quản trị rủi ro.[9]
Bên cạnh đó, quản lý nhà nước trong kinh tế là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối… để đạt được mục tiêu kinh tế - xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.[10] Do đó, quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm là sự tác động của các cơ quan quản lý nhà nước mang tính tổ chức và có định hướng đối với các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm thông qua các công cụ quản lý nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã đề ra trên cơ sở đảm bảo an toàn, phát triển cho thị trường tài chính. Ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm có chủ thể quản lý là Quốc hội, Chính phủ và trực tiếp nhất là Bộ Tài chính;[11] còn đối tượng quản lý là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm.[12]
1.2. Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Vai trò của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm: (1) Định hướng và phát triển: định hướng hoạt động bảo hiểm phục vụ mục tiêu kinh tế - xã hội; (2) Phân bổ nguồn lực: góp phần phân bổ nguồn vốn, giảm gánh nặng ngân sách nhà nước và thúc đẩy đầu tư;[13] (3) Bảo vệ và ổn định: quản lý chặt chẽ để bảo vệ quyền lợi của người mua bảo hiểm và duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính quốc gia.
1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Một là, xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện thông qua hoạt động định hướng và điều chỉnh. Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành đường lối, chính sách; từ đó, Quốc hội và Chính phủ cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật, còn Bộ Tài chính xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp. Trên cơ sở định hướng đó, Nhà nước ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm luật, nghị định, thông tư nhằm quản lý rủi ro và bảo đảm sự phát triển bền vững của thị trường bảo hiểm.
Hai là, điều tiết hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nhà nước thực hiện điều tiết bằng cách tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật thông qua việc cấp, điều chỉnh, thu hồi giấy phép hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Đồng thời, Nhà nước thanh tra, giám sát quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm, bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp và quyền lợi hợp pháp của người mua bảo hiểm.
Ba là, Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Thông qua đó, cơ quan quản lý có thể sớm phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm của doanh nghiệp bảo hiểm và người mua, kịp thời hướng dẫn điều chỉnh, góp phần lành mạnh hóa thị trường. Đồng thời, việc xử lý vi phạm giúp răn đe, phòng ngừa hành vi sai phạm từ các chủ thể khác. Do đặc thù kinh doanh rủi ro, hoạt động bảo hiểm dễ phát sinh tranh chấp, nên công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
2. Thực trạng pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
2.1. Một số kết quả đạt được
Thứ nhất, Việt Nam đã xác lập môi trường pháp lý tương đối toàn diện, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Để thúc đẩy phát triển và bảo đảm tính an toàn, lành mạnh cho thị trường bảo hiểm, Việt Nam đã ban hành hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm, bắt đầu từ Luật năm 2000. Hiện nay, khung pháp lý gồm Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP, Nghị định số 174/2024/NĐ-CP, Thông tư số 67/2023/TT-BTC,… Hệ thống pháp luật này tương đối đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và góp phần quan trọng vào phát triển ổn định, bền vững của thị trường bảo hiểm.
Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước đã có những điều tiết kịp thời đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam được luật hóa từ năm 2000 và liên tục hoàn thiện để bảo đảm môi trường minh bạch, lành mạnh. Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 và Nghị định số 46/2023/NĐ-CP đã siết chặt quy định về nhân sự, đại lý và kênh phân phối, đặc biệt với tổ chức tín dụng tham gia hoạt động bancassurance.[14] Pháp luật hiện hành quy định rõ tài liệu giới thiệu và bán bảo hiểm phải minh bạch, nêu rõ quyền lợi để tránh gây nhầm lẫn hoặc tạo kỳ vọng sai lệch cho khách hàng.[15] Bên cạnh đó, nhằm thúc đẩy thị trường, Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 đã mở rộng loại hình bảo hiểm từ 3 lên 5 loại hình: nhân thọ, sức khỏe, tài sản, thiệt hại và trách nhiệm. Đồng thời, luật bổ sung quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, tạo hành lang pháp lý cho chuyển đổi số trong ngành. Nhờ điều chỉnh kịp thời, hoạt động bảo hiểm tại Việt Nam đạt nhiều kết quả tích cực. Bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 74.889 tỷ đồng (tăng 5,4%), tổng tài sản toàn ngành khoảng một triệu tỷ đồng (tăng 8,79%). Tỷ lệ ứng dụng AI trong xử lý bồi thường đạt 92,2%, tăng mạnh so với 40,9% năm trước.[16]
Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát được thực hiện tương đối hiệu quả.
Cơ quan nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp bảo hiểm và kiến nghị hoàn thiện quy trình, siết chặt quản lý phân phối qua tổ chức tín dụng, chấn chỉnh công tác đại lý. Nhờ đó, nhiều vi phạm được phát hiện, xử lý, góp phần tạo môi trường kinh doanh minh bạch. Giai đoạn 2022-2023, Bộ Tài chính đã thanh tra 10/17 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, chuyển một số vụ việc có dấu hiệu hình sự sang cơ quan điều tra; vi phạm chủ yếu ở hoạt động bancassurance, với tổng số tiền bị kiến nghị xử lý lên tới 21.000 tỷ đồng.[17]
2.2. Một số vấn đề tồn tại
Thứ nhất, môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm vẫn còn tồn tại một số bất cập.
Một là, quy định về bảo vệ quyền lợi người mua bảo hiểm vẫn còn tồn tại khoảng trống pháp lý, ảnh hưởng tới sự an toàn, lành mạnh của thị trường bảo hiểm. Thanh tra Bộ Tài chính cho thấy hơn 3 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ bị hủy sau năm đầu tại một số doanh nghiệp lớn (trên 70%), chủ yếu do đại lý là tổ chức tín dụng tư vấn thiếu đầy đủ, khiến khách hàng không hiểu rõ quyền lợi và nội dung hợp đồng.[18] Về mặt pháp lý, hành vi của đại lý bảo hiểm đã xâm phạm nguyên tắc thiện chí, trung thực trong quan hệ dân sự (các bên có nghĩa vụ hợp tác, không được gian dối, nếu gây thiệt hại, bên vi phạm phải bồi thường).[19] Đặc biệt, khoản 1 Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 yêu cầu sự trung thực tuyệt đối giữa các bên khi giao kết và thực hiện hợp đồng, đòi hỏi cung cấp đầy đủ thông tin và thực hiện quyền, nghĩa vụ trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, các hành vi vi phạm nói trên không thuộc căn cứ tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 25 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022. Do đó, người mua bảo hiểm gặp khó khăn trong việc yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án tuyên hợp đồng vô hiệu để đòi lại số tiền đã đóng, đặc biệt trong năm đầu. Thực trạng này không chỉ xâm hại quyền lợi người mua, mà còn đe dọa tính an toàn, minh bạch của thị trường bảo hiểm.
Hai là, quy định về chế tài hình sự đối với hành vi trục lợi bảo hiểm còn bất cập, ảnh hưởng đến sự an toàn thị trường. Điều 213 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự khi chiếm đoạt từ 20 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 50 triệu đồng, nhưng chưa xử lý trường hợp tái phạm sau khi đã bị xử phạt hành chính. Thiếu sót này làm giảm tính răn đe và hiệu quả phòng ngừa gian lận bảo hiểm.
Thứ hai, một số hành vi có nguy cơ xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chủ thể chưa được điều chỉnh kịp thời.
Một là, hành vi ép giao kết hợp đồng bảo hiểm đã bị cấm theo khoản 5 Điều 9 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 và bị xử phạt hành chính tại điểm d khoản 2 Điều 16 Nghị định số 174/2024/NĐ-CP. Đồng thời, hành vi này vi phạm điều kiện hiệu lực của hợp đồng Điều 407 Bộ luật Dân sự 2015 và có thể bị tuyên vô hiệu theo điểm h khoản 1 Điều 25 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022. Tuy nhiên, thực tế việc xử lý còn chậm, trong khi hành vi ép buộc vẫn xảy ra, đặc biệt trong giao dịch tín dụng và rất khó chứng minh do thiếu chứng cứ rõ ràng. Trước thực trạng trên, Bộ Tài chính - cơ quan quản lý mới chỉ dừng lại ở mức cảnh báo, chưa có giải pháp thực sự hiệu quả để xử lý dứt điểm thực trạng này.[20] Thực trạng này ảnh hưởng đến tính lạnh mạnh trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ảnh hưởng đến quyền lợi của bên mua bảo hiểm.
Hai là, việc thực hiện quy định về hủy bỏ và đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm hiện chưa được cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh kịp thời, ảnh hưởng đến quyền lợi bên mua bảo hiểm. Hiện nay, pháp luật chỉ cho phép doanh nghiệp bảo hiểm hủy bỏ hợp đồng nếu bên mua cố ý cung cấp thông tin không đầy đủ hoặc sai sự thật nhằm mục đích giao kết hợp đồng, nhận bồi thường hoặc hưởng quyền lợi bảo hiểm.[21] Mặt khác, doanh nghiệp bảo hiểm được đơn phương chấm dứt hợp đồng nếu bên mua không đóng đủ phí đúng hạn, kể cả sau gia hạn.[22] Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm có xu hướng chấm dứt hợp đồng khi khách hàng đóng không đủ phí đúng hạn, nhằm tối đa hóa lợi nhuận.[23] Bởi theo khoản 2, Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm, khi hủy hợp đồng, doanh nghiệp chỉ hoàn phí đã đóng (sau khi trừ chi phí hợp lý) và không phải chi trả tiền bảo hiểm. Trong khi đó, nếu chấm dứt hợp đồng theo điểm b, khoản 1 Điều 27, doanh nghiệp vẫn phải chi trả bảo hiểm nếu sự kiện xảy ra trước thời điểm chấm dứt. Việc áp dụng theo hướng bất lợi này ảnh hưởng đến quyền lợi bên mua và làm giảm hiệu quả chuyển giao rủi ro của hợp đồng bảo hiểm.
Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, giải quyết khiếu nại tố cáo còn tồn tại hạn chế.
Thực tế, hoạt động thanh tra và giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn còn nhiều hạn chế. [24] Theo đó, pháp luật quy định rõ trách nhiệm giám sát rủi ro, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo định kỳ và kiểm soát nội bộ.[25] Việc thiếu hệ thống giám sát hiệu quả gây khó khăn trong xác minh, bồi thường, ảnh hưởng quyền lợi người tham gia và làm gia tăng rủi ro tài chính, ảnh hưởng đến khả năng chi trả và sự an toàn của doanh nghiệp bảo hiểm.
Ngoài ra, quy trình giải quyết khiếu nại, tranh chấp bảo hiểm còn nhiều vướng mắc, thường kéo dài do người mua gặp khó khăn trong việc thu thập hồ sơ, chứng từ, trong khi doanh nghiệp lại yêu cầu thủ tục phức tạp. Việc phối hợp giữa các cơ quan như công an, y tế và đơn vị chức năng còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả xử lý. Bên cạnh đó, người mua bảo hiểm còn thiếu kiến thức và kỹ năng cần thiết, dẫn đến khó khăn trong việc hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và bảo vệ quyền lợi khi phát sinh tranh chấp.[26]
3. Hướng đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam
Thứ nhất, hoàn thiện môi trường pháp lý.
Một là, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 cần bổ sung quy định coi hành vi tư vấn, môi giới không cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về đặc điểm và quyền lợi sản phẩm bảo hiểm là căn cứ để hủy bỏ hoặc tuyên bố hợp đồng bảo hiểm vô hiệu. Bởi hành vi này về bản chất tương tự với việc cố ý cung cấp sai lệch thông tin nhằm giao kết hợp đồng theo khoản 2 Điều 22 và điểm đ khoản 1 Điều 21. Việc bổ sung quy định này sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi và bảo đảm hậu quả pháp lý cho bên mua bảo hiểm.
Hai là, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 213 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) theo hướng bổ sung tình tiết “hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” vào nội dung khoản 1. Từ đó, bảo đảm tính thống nhất với nguyên tắc xử lý hình sự trường hợp tái phạm đã được ghi nhận tại nhiều quy định khác, và tăng cường hiệu quả phòng ngừa, răn đe gian lận bảo hiểm.
Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước cần kịp thời điều chỉnh một số hành vi.
Một là, cơ quan quản lý nhà nước cần kịp thời điều chỉnh hành vi ép giao kết hợp đồng bảo hiểm nhằm bảo đảm an toàn, lành mạnh cho thị trường. Cụ thể, cần hoàn thiện cơ chế tố tụng rút gọn, đơn giản hóa thủ tục tại Trọng tài và Tòa án để hỗ trợ bên mua bảo hiểm trong các trường hợp bị ép buộc. Bởi pháp luật đã cấm hành vi này, thực tế vẫn còn phổ biến, trong khi việc chứng minh bị ép là khó và quá trình giải quyết kéo dài. Vì vậy, đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian xử lý, đặc biệt trong việc tuyên hợp đồng vô hiệu, là cần thiết để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bên mua bảo hiểm.
Hai là, cơ quan quản lý nhà nước cần điều chỉnh kịp thời các quy định liên quan đến việc hủy bỏ và đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Cần bảo đảm hậu quả pháp lý được áp dụng nhất quán, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả quyền lợi nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra trước thời điểm hợp đồng chấm dứt, dù dưới hình thức nào. Đồng thời, cần bổ sung nghĩa vụ thông báo kịp thời việc chấm dứt hợp đồng; nếu vi phạm và gây thiệt hại, bên vi phạm phải bồi thường theo quy định pháp luật.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Để nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo hiểm, Bộ Tài chính cần định hướng quản lý theo phương pháp tiếp cận dựa trên rủi ro. Theo đó, cần tập trung kiểm soát chỉ số an toàn vốn, phân loại doanh nghiệp, tăng cường quản trị rủi ro và hoàn thiện hệ thống cảnh báo sớm. Đồng thời, cần cập nhật quy định về quản lý rủi ro, xác định rõ trách nhiệm của cơ quan giám sát, tăng cường minh bạch và xử lý nghiêm vi phạm. Bộ Tài chính cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người mua bảo hiểm; hợp tác quốc tế và phát huy vai trò của tổ chức xã hội, nghề nghiệp để phát triển thị trường bảo hiểm lành mạnh.
Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, cần nâng cao năng lực tài chính, hoàn thiện cơ chế quản lý rủi ro, nâng cao quản trị doanh nghiệp, chú trọng chất lượng dịch vụ khách hàng và bảo đảm công khai, minh bạch thông tin theo quy định.
Như vậy, công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm đã đạt nhiều kết quả, nhưng vẫn còn hạn chế trong bảo vệ người mua, chế tài vi phạm và hiệu quả giám sát. Để nâng cao hiệu quả quản lý cần hoàn thiện pháp luật, tăng cường thanh tra và nâng cao nhận thức pháp lý cho cả doanh nghiệp và người dân.
Tài liệu trích dẫn:
[1] Bảo Ngọc (2025), Ngành Bảo hiểm năm 2025: Chuyển mình và tăng sức đề kháng, Tạp chí Tài chính, truy cập tại https://tapchitaichinh.vn/nganh-bao-hiem-nam-2025-chuyen-minh-va-tang-suc-de-khang.html
[2] Rejda, G. E., & McNamara, M. J. (2020). Principles of Risk Management and Insurance (14th ed.). Pearson, tr.20.
[3] J. François Outreville (1998), Theory and Practice of Insurance, truy cập tại https://link.springer.com/book/10.1007/978-1-4615-6187-3
[4] Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo bảo hiểm (2013), Giáo trình đại lý bảo hiểm cơ bản, tr. 8
[5] Khoản 2 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
[6] Xem thêm khoản 1, khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 4 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022
[7] Rejda, G. E., & McNamara, M. J. (2020), Principles of Risk Management and Insurance (14th ed.), Pearson, tr.31, 20
[8] Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo bảo hiểm (2013), Giáo trình đại lý bảo hiểm cơ bản, tr. 5-6.
[9] Điều 64, Điều 74; Điều 81, Điều 151 đến Điều 154 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022; Điều 11, Điều 35 Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/07/2023 hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm.
[10] Phan Huy Đường (2010), Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 26 - 27.
[11] Điều 151 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022
[12] Khoản 1 Điều 2 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022
[13] Điều 99 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
[14] Xem thêm Chương IV Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022
[15] Xem thêm Điều 31 Thông tư số 67/2023/TT-BTC hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm, Nghị định số 46/2023/NĐ-CP hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm.
[16] Bảo Ngọc (2025), Ngành Bảo hiểm năm 2025: Chuyển mình và tăng sức đề kháng, Tạp chí Tài chính, truy cập tại https://tapchitaichinh.vn/nganh-bao-hiem-nam-2025-chuyen-minh-va-tang-suc-de-khang.html
[17] Phan Linh (2024), Thanh tra đã kiến nghị xử lý tài chính 21.000 tỷ đồng với 10 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, truy cập tại https://vneconomy.vn/thanh-tra-da-kien-nghi-xu-ly-tai-chinh-21-000-ty-dong-voi-10-doanh-nghiep-bao-hiem-nhan-tho.htm
[18] Ngọc Linh (2024), Vì sao hơn 3 triệu hợp đồng bảo hiểm mất hiệu lực? truy cập tại https://tienphong.vn/vi-sao-hon-3-trieu-hop-dong-bao-hiem-mat-hieu-luc-post1628166.tpo
[19] Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 và khoản 3 Điều 3 Bộ luật Dân sự 2015.
[20] Minh Trung, Hoài Sơn (2023), Hoàn thiện hành lang pháp lý để thị trường kinh doanh bảo hiểm phát triển minh bạch, bảo vệ quyền lợi của các bên, truy cập tại https://phaply.net.vn/hoan-thien-hanh-lang-phap-ly-de-thi-truong-kinh-doanh-bao-hiem-phat-trien-minh-bach-bao-ve-duoc-quyen-loi-cua-cac-ben-a257169.html,
[21] Xem thêm điểm c khoản 1 Điều 20, khoản 2 Điều 22 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
[22] Xem thêm khoản 1 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
[23] Ngọc Linh (2024), Vì sao hơn 3 triệu hợp đồng bảo hiểm mất hiệu lực?, truy cập tại https://tienphong.vn/vi-sao-hon-3-trieu-hop-dong-bao-hiem-mat-hieu-luc-post1628166.tpo
[24] Khoản 2 Điều 55 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
[25] Phan Linh (2022), Công ty bảo hiểm thiếu minh bạch báo cáo tài chính, truy cập tại https://vneconomy.vn/techconnect//cong-ty-bao-hiem-thieu-minh-bach-bao-cao-tai-chinh.htm
[26] Lan Anh (2023), Tranh chấp bảo hiểm: Quyền và nghĩa vụ của khách hàng và công ty, truy cập tại https://vneconomy.vn/tranh-chap-bao-hiem-quyen-va-nghia-vu-cua-khach-hang-va-cong-ty.htm
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự 2015.
Quốc hội (2022). Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022.
Lan Anh (2023), Tranh chấp bảo hiểm: Quyền và nghĩa vụ của khách hàng và công ty, truy cập tại https://vneconomy.vn/tranh-chap-bao-hiem-quyen-va-nghia-vu-cua-khach-hang-va-cong-ty.htm
Bộ Tài chính (2023), Thông tư số 67/2023/TT-BTC hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm và Nghị định số 46/2023/NĐ-CP hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm.
Chính phủ (2023), Nghị định số 46/2023/NĐ-CP ngày 01/07/2023 hướng dẫn Luật Kinh doanh bảo hiểm.
Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo bảo hiểm (2013), Giáo trình đại lý bảo hiểm cơ bản.
Phan Huy Đường (2010), Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ngọc Linh (2024), Vì sao hơn 3 triệu hợp đồng bảo hiểm mất hiệu lực?, báo Tiền Phong, truy cập tại https://tienphong.vn/vi-sao-hon-3-trieu-hop-dong-bao-hiem-mat-hieu-luc-post1628166.tpo
Phan Linh (2022), Công ty bảo hiểm thiếu minh bạch báo cáo tài chính, truy cập tại https://vneconomy.vn/techconnect//cong-ty-bao-hiem-thieu-minh-bach-bao-cao-tai-chinh.htm
Phan Linh (2024), Thanh tra đã kiến nghị xử lý tài chính 21.000 tỷ đồng với 10 doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, truy cập tại https://vneconomy.vn/thanh-tra-da-kien-nghi-xu-ly-tai-chinh-21-000-ty-dong-voi-10-doanh-nghiep-bao-hiem-nhan-tho.htm
Bảo Ngọc (2025), Ngành Bảo hiểm năm 2025: Chuyển mình và tăng sức đề kháng, truy cập tại https://tapchitaichinh.vn/nganh-bao-hiem-nam-2025-chuyen-minh-va-tang-suc-de-khang.html
Minh Trung, Hoài Sơn (2023), Hoàn thiện hành lang pháp lý để thị trường kinh doanh bảo hiểm phát triển minh bạch, bảo vệ quyền lợi của các bên, truy cập tại https://phaply.net.vn/hoan-thien-hanh-lang-phap-ly-de-thi-truong-kinh-doanh-bao-hiem-phat-trien-minh-bach-bao-ve-duoc-quyen-loi-cua-cac-ben-a257169.html
J. François Outreville (1998), Theory and Practice of Insurance, web: https://link.springer.com/book/10.1007/978-1-4615-6187-3
Rejda, G. E., & McNamara, M. J. (2020), Principles of Risk Management and Insurance (14th ed.), Pearson.
Legal framework for state management of insurance business in Vietnam: Current circumstances and policy recommendations
Bui Thanh Hien
Non-Life Insurance Management and Supervision Unit, Department of Management and Supervision of Insurance, Ministry of Finance
Abstract:
Vietnam’s insurance sector has experienced steady growth, with premium revenue reaching VND 74,889 billion in the first four months of 2025, marking a 5.4% year-on-year increase. Despite this progress, the industry continues to face significant challenges related to legal frameworks, regulatory mechanisms, supervisory capacity, and dispute resolution processes. This study analyzes the sector’s current performance, highlights its limitations, and proposes policy recommendations aimed at strengthening state management, enhancing regulatory efficiency, and fostering sustainable market development.
Keywords: state management, insurance business, management efficiency.
[Tạp chí Công Thương - Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 25 năm 2025]
