Thực trạng thực hiện thuế xuất nhập khẩu xăng dầu ở Việt Nam

ThS. Phạm Thị Ngọc Mai (Khoa Tài chính ngân hàng - Trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp)

TÓM TẮT:

Trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và trước những biến động khó tiên liệu của thị trường xăng dầu thế giới, việc quản lý Nhà nước nói chung và công tác kiểm tra thanh tra của cơ quan hải quan, chi cục thuế nói riêng đối với việc thu thuế xăng dầu như là một nhu cầu tất yếu, một giải pháp có tính đột phá để thích nghi và phát triển.

Từ khóa: Thuế xuất nhập khẩu xăng dầu, cơ quan quản lý, hội nhập quốc tế, thương mại quốc tế.

I. Đặt vấn đề

Thuế luôn là một vấn đề quan trọng trong các hoạt động của WTO và có ảnh hưởng trực tiếp đến việc đàm phán của các quốc gia trong quá trình hội nhập cũng như khi đã trở thành viên chính thức của tổ chức này. Trước tình hình mới khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới đã đặt ra yêu cầu phải thực hiện cải cách chính sách thuế. Một trong những vấn đề rất quan tâm của chính phủ là cải cách thuế xuất nhập khẩu, vì thuế xuất nhập khẩu là loại thuế chịu tác động mạnh nhất trong quá trình hội nhập. Chính sách thuế quan tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động thương mại và đầu tư phát triển, góp phần bảo hộ có hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế cũng như giảm thiểu các tác động bất lợi đối với nền kinh tế trước sự biến động của thị trường thế giới.

Để nhìn nhận rõ hơn về chính sách thuế xuất nhập khẩu tại Việt Nam trong thời kì gia nhập WTO, xăng dầu là mặt hàng tiêu biểu để tìm hiểu về thuế xuất nhập khẩu, từ đó tìm ra những bất ổn và các giải pháp để giải quyết.

II. Thực trạng

1. Tình hình xuất nhập khẩu xăng dầu

Năm 2016, xuất khẩu xăng dầu trong tháng là 886 nghìn tấn, đạt trị giá 549 triệu USD. Hết quý I/2016, lượng dầu thô xuất khẩu của nước ta đạt 2,24 triệu tấn, giảm 47,1%; trị giá đạt 1,35 tỷ USD, chỉ giảm 9,1% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý I/2016, dầu thô của nước ta chủ yếu được xuất khẩu sang Ôxtrâylia với 775 nghìn tấn, giảm 15,6%; sang Singapore: 507 nghìn tấn, giảm 40,7%; sang Trung Quốc: 265 nghìn tấn, giảm 28%; sang Malaysia: 174 nghìn tấn, giảm 77,4% so với 3 tháng/2015.

Năm 2016, hết quý 1, lượng nhập khẩu xăng dầu của cả nước là 2,6 triệu tấn, giảm 17% so với cùng kỳ năm 2015. So với cùng kỳ, trị giá nhập khẩu là 1,58 tỷ USD, tăng 30,8%.

Xăng dầu các loại nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu có xuất xứ từ Singapore , tiếp theo là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Malayxia.

Trong nửa đầu tháng 5/2016 so với cùng kỳ năm trước thì xăng dầu các loại tăng 396 triệu USD.

2. Đánh giá chung về thuế xuất nhập khẩu xăng dầu

Giá dầu thành phẩm thế giới trong thời gian gần đây diễn biến phức tạp lên xuống thất thường, khiến cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu mối trong nước bị ảnh hưởng theo. Trước tình hình đó, Bộ Tài chính đã quyết định thay đổi thuế nhập khẩu xăng dầu nhằm hỗ trợ giá xăng dầu nhập khẩu vào nước ta, đảm bảo cho tiêu dùng của người dân.

Do sự biến động của thị trường làm cho thuế suất thuế xuất nhập khẩu xăng dầu trong những tháng đầu năm 2016 cũng đã thay đổi.

Từ ngày 26/01/2016, mức thuế suất nhập khẩu ưu đãi khi giá dầu thô từ 45 USD/thùng đến dưới 60 USD/thùng đối với xăng dầu hỏa nhiên liệu bay là 30%, diezen và mazut 25%. Thuế suất là 25% đối với với xăng dầu hỏa nhiên liệu bay và 20% đối với diezel, mazut khi dầu thô có giá từ 60 USD/thùng đến dưới 75 USD/thùng. Còn với mức giá dầu thô từ 75 USD/thùng đến dưới 95 USD/thùng, thuế suất sẽ là 20% đối với xăng dầu hỏa nhiên liệu bay và 15% đối với diezel, mazut.

Từ ngày 1/2/2016, nhiên liệu diesel dùng cho động cơ tốc độ cao, các loại diesel và nhiên liệu đốt sẽ được điều chỉnh giảm5% xuống còn 15%. Cònriêng đối với kerosene cũng được điều chỉnh giảm 10%, từ mức 30% xuống còn 20%.

Từ ngày 21/4/2016, thuế nhập khẩu xăng giảm 3%, từ mức 20% xuống còn 17%. Cùng với xăng, thuế nhập khẩu các mặt hàng dầu hỏa, diezel có mức thuế suất mới là 10% thay vì 15% như trước.

3. Những bất cập trong xuất nhập khẩu xăng dầu

Việt Nam là một thị trường chủ yếu xuất khẩu dầu thô thuộc phân kỳ giá thấp, còn nhập khẩu nhiều hàng hóa xăng dầu thuộc phân kỳ giá cao nên cho dù giá thị trường biến động theo chiều nào đều gây ra những bất lợi cho thị trường.

Về xuất khẩu, Việt Nam là một thị trường xuất khẩu dầu thô, nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nguồn tài nguyên này nay đang có dấu hiệu cạn kiệt do khai thác quá nhiều, nhưng hàng năm vẫn đặt chỉ tiêu khai thác để tiêu dùng và xuất khẩu cao. Do đó, dẫn đến nguy cơ nguồn tài nguyên này sẽ dần dần cạn kiệt.

Sau khi gia nhập WTO, những vụ kiện áp dụng các biện pháp thương mại không giảm mà còn có xu hướng tăng lên, với 3 nét nổi bật: (1) Mỹ và EU - chưa công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường - kiện nhiều nhất (2) Có đến 9 mặt hàng, trong đó đặc biệt là các ba sa, tôm sú, giày mũ da... tăng trưởng xuất khẩu nhanh vào các thị trường đó bị kiện nhiều nhất. (3) Kiện chống bán phá giá là chính, song nay lại phải đối mặt với kiện về chống trợ cấp đối với mặt hàng túi nhựa xách tay vào thị trường Mỹ. Do đó, các nước áp dụng hàng rào thuế quan đối với mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam gây khó khăn cho việc xuất khẩu các mặt hàng này ra nước ngoài trong đó có mặt hàng dầu thô.

Bên cạnh đó còn xuất hiện tình trạng buôn lậu xăng qua biên giới bằng đường bộ và đường biển, các cửa hàng xăng dầu gần biên giới hay các cá nhân vì lợi nhuận mà buôn bán lậu hàng xăng dầu qua biên giới. Điển hình là từ khu vực sông Mekong giữa Campuchia và Việt Nam tới vùng rừng núi giữa Thái Lan - Malaysia và vùng biển Indonesia, Trung Quốc - Hồng Kông..., những kẻ buôn lậu xăng dầu đang kiếm lợi bất hợp pháp hàng chục triệu USD. Giá dầu càng cao, nguồn lợi càng lớn. Xăng dầu buôn lậu dưới mọi hình thức, quy mô lớn nhỏ tùy thuộc. Nhỏ là vài chục lít xăng đựng trong thùng được chở bằng xe đạp, xe máy hoặc giấu trong thuyền. Lớn là hàng trăm lít chất trong xe tải, tàu biển. Mỗi năm, Campuchia chỉ nhập khẩu khoảng 1 triệu tấn xăng dầu, nhưng số xăng dầu tịch thu được từ những kẻ buôn lậu đã lên tới 2,5 triệu tấn tính từ năm 2010 đến nay.

4. Các hình thức gian lận thuế xuất nhập khẩu xăng dầu

Một vấn đề nổi bật làm giảm đáng kể số thu ngân sách là việc trốn thuế qua giá, trong đó doanh nghiệp lợi dụng chính sách hàng chuyển cửa khẩu để trốn thuế. Về cơ bản hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam được xác định giá tính thuế theo hiệp định trị giá GATT/WTO. Tổng cục Hải quan lập kế hoạch chỉ đạo, phát hiện các trường hợp gian lận về trị giá khai báo hải quan theo GATT, các gian lận về giá khai báo đối với các mặt hàng như ô tô, xe máy, rượu, xăng dầu nhập khẩu.

Việt Nam ngày càng gia nhập sâu và đa dạng vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt là việc thực hiện cắt giảm thuế theo các hiệp định khu vực khác biệt nên việc gian lận, trốn thuế là điều không thể tránh khỏi.

Bắt đầu bằng việc bãi bỏ bảng giá thuế tối thiểu, tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (CEPT/AFTA) với những dòng thuế suất ưu đãi, thì bắt đầu có hiện tượng nhập hàng hóa không đủ điều kiện nhưng vẫn sử dụng chứng nhận xuất xứ ASEAN (C/O form D), thậm chí xuất hiện cả C/O giả. Theo quy định, hàng hóa có C/O form D, tức trong sản phẩm phải có chứa trên 40% hàm lượng xuất xứ từ ASEAN khi xuất khẩu vào các nước trong ASEAN sẽ được hưởng mức thuế suất là 0% hoặc 10%, 15%..., thấp hơn nhiều so với hàng ngoài ASEAN.

Các trường hợp cố tình khai báo sai mã số thuế cũng rất đa dạng, lợi dụng sự phức tạp trong cơ cấu sản phẩm cũng như tên gọi, đặc biệt là những sản phẩm mới, là hỗn hợp của nhiều chất hoặc linh kiện khó có thể phân biệt bằng cảm quan.

Ngoài ra còn xảy ra các hình thức gian lận thuế xuất nhập khẩu như: Một là, lập hồ sơ khai thuế ghi thiếu, ghi sai các chỉ tiêu trên bảng kê hóa đơn hàng hóa, dịch vụ mua vào, bán ra hoặc trên các tài liệu khác liên quan đến nghĩa vụ thuế. Hai là, lập hồ sơ khai thuế ghi thiếu, ghi sai các chỉ tiêu trên hóa đơn, hợp đồng kinh tế và chứng từ khác liên quan đến nghĩa vụ thuế. Ba là, lập hồ sơ khai thuế ghi thiếu, ghi sai các chỉ tiêu trên tờ khai thuế, tờ khai quyết toán thuế. Bốn là, không cung cấp được hóa đơn, chứng từ hợp pháp của lô hàng vận chuyển trong thời hạn 12 giờ, kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, phát hiện hành vi vi phạm. Năm là, không cung cấp được hóa đơn, chứng từ hợp pháp của lô hàng vận chuyển sau 24 giờ, kể từ thời điểm cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, phát hiện hành vi vi phạm, nhưng chưa ra quyết định xử phạt. Sáu là, không kê khai hoặc kê khai không chính xác dẫn đến giảm số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn. Bẩy là, sử dụng hóa đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được hoàn, số thuế được miễn, số thuế được giảm. Tám là, lập hóa đơn bán hàng hoá sai về số lượng, giá trị để khai thuế thấp hơn thực tế. Chín là, sử dụng hàng hoá được giảm thuế, miễn thuế (bao gồm cả hàng hoá thuộc diện không chịu thuế) không đúng với mục đích quy định mà không khai thuế.

Bên cạnh đó còn xảy ra hiện tượng mua chuộc, hối lộ cán bộ hải quan làm nhiệm vụ tại các cửa khẩu để nhập lậu số lượng lớn hàng hóa vào nội địa hoặc để xuất hàng ra nước ngoài. Hàng hóa xuất nhập khẩu đều được đóng gói bao bọc kín, nhất là hiện nay việc giao hàng bằng container là phổ biến, hàng hóa được kiểm hóa tại doanh nghiệp, nhiều đối tượng đã đánh tráo hàng để nhập, xuất lậu các mặt hàng bị cấm hoặc bị đánh thuế cao.

Trên đường biển, các tàu biển nước ngoài vận chuyển hàng nội địa nhưng đưa lẫn nhiều hàng ngoại nhập lậu hoặc hàng khác chủng loại cho phép vào Việt Nam. Các đối tượng thay đổi bao bì, nhãn mác hàng hóa để hưởng thuế suất thấp. Ngoài ra, là hành vi lập bộ hồ sơ khai báo hải quan giả hoặc cố ý thiếu, sai lệch một số yếu tố, ghi chung chung, không rõ ràng.

Lợi dụng các chính sách pháp luật và ưu đãi về thuế của Nhà nước ta, nhiều đối tượng và doanh nghiệp đã tìm cách trốn thuế, như lợi dụng ưu đãi về thời hạn nộp thuế, các cá nhân và tổ chức đã cố tình nợ đọng kéo dài, chây ì, chiếm dụng thuế rồi bỏ trốn hoặc chỉ thực hiện một vài hợp đồng nhập khẩu rồi giải thể doanh nghiệp hoặc chuyển sang lĩnh vực khác; trốn thuế qua việc khai sai xuất xứ hàng hóa, xuất trình giấy xuất xứ giả, không đúng xuất xứ hàng hóa để được áp mã số thuế thấp hơn để trốn thuế XNK; trốn thuế qua chính sách hàng đổi hàng hoặc việc kinh doanh hàng tạm nhập tái xuất, kinh doanh hàng miễn thuế, kho ngoại quan.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Giáo trình Thuế - Đại học Kinh tế quốc dân

2. Tạp chí Công Thương

3. Tạp chí Tài chính

4. Tạp chí Thống kê

THE SITUATION OF COLLECTING IMPORT AND EXPORT

TAXES FOR OIL AND GASOLINE IN VIETNAM

Master. Pham Thi Ngoc Mai

Faculty of Finance and Banking, University of Economic and Technical Industries

Abstract:

Under requirements of international economic integration and unpredictable fluctuations of the global oil market, the state controlling and management tasks which are carried out by customs departments or tax departments in collecting import and export taxes for oil and gasoline need to be developed in a convenient way.

Keywords: Import and export taxes for oil, management agency, international integration, international trade.

Xem toàn bộ ấn phẩm Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ số 01 tháng 01/2017 tại đây