Tiếp nhận dòng đầu tư mới vào lĩnh vực dệt may: Từ góc độ quản lý môi trường toàn cầu

Khi Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương – TPP mà Việt Nam đang tham gia đàm phán có hiệu lực, đối với mặt hàng dệt may, một trong những nguyên tắc cơ bản để được hưởng mức thuế

Hiện tượng phát thải khí nhà kính

Trong chuỗi bông/xơ – sợi – vải – nhuộm/hoàn tất – cắt/may chúng ta đang có lợi thế ở khâu cuối. Khi tham gia TPP đây là những thách thức lớn cho ngành dệt may nhưng cũng là động lực, cũng như cơ hội để các doanh nghiệp trong nước mở rộng đầu tư, thu hút đầu tư nước ngoài, giúp tạo ra nguyên liệu đầu vào cho việc sản xuất những sản phẩm may mặc có thể xuất sang thị trường Hoa Kỳ với mức thuế nhập khẩu là 0%. Mặt trái của “làn sóng” các doanh nghiệp nước ngoài di chuyển hoạt động sản xuất sợi, vải hay may mặc từ đất nước của họ sang Việt Nam nhằm tận hưởng những lợi thế do TPP đem lại đối với hoạt động bảo vệ môi trường mà tôi muốn đề cập trong bài viết này đó chính là phát thải khí nhà kính và rò rỉ các-bon quốc tế do hoạt động đầu tư các nhà máy sản xuất nói trên mang lại.

Các vấn đề môi trường toàn cầu hiện nay đã và đang thu hút được sự quan tâm của toàn thế giới. Đặc biệt sự nóng lên toàn cầu có nguyên nhân từ phát thải khí nhà kính là vấn đề trung tâm trong mọi vấn đề. Để đối phó với sự ấm lên toàn cầu, một hiệp ước môi trường quốc tế, Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC), đã được đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất được tổ chức tại Rio de Janeiro năm 1992. Sau đó nghị định thư Kyoto lại được thông qua tại kỳ họp thứ ba của Hội nghị các bên tham gia UNFCCC (COP3) vào tháng 12 năm 1997. Trong nghị định thư Kyoto, các quốc gia có nền công nghiệp phát triển, còn được gọi là các quốc gia thuộc Phụ lục I (Annex I Parties) cam kết giảm phát thải khí nhà kính (GHG) xuống còn 5.2% so với mức cơ sở năm 1990 trong giai đoạn 2008-2012. Tuy nhiên, Hoa Kỳ một bên ký kết nghị định lại chưa phê chuẩn, hơn nữa các quốc gia đang phát triển bao gồm Trung Quốc và Ấn Độ lại không có nghĩa vụ giảm phát thải.

Chúng ta đã thấy Nghị định thư Kyoto là một bước tiến quan trọng hướng tới việc giảm phát thải khí nhà kính. Tuy nhiên, sự tham gia “không trọn vẹn” của một số quốc gia nhất định trong khuôn khổ của giảm phát thải khí nhà kính là một hạn chế rất lớn. Đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc là những nước phát thải khí nhà kính lớn nhất trên thế giới. Vì sự tham gia không trọn vẹn này, một vấn đề rất nghiêm trọng xảy ra đó chính là rò rỉ các-bon quốc tế (International Carbon Leakage). Và vì vậy việc giảm phát thải khí nhà kính tại một số quốc gia sẽ tăng lên (chuyển sang) các nước khác. Kết quả là, lượng khí thải trên toàn thế giới có thể vẫn gia tăng.

Chu trình các bon

Rò rỉ các-bon quốc tế hay còn gọi là di chuyển các-bon ra nước ngoài theo Nghị định thư Kyoto là việc chuyển các cơ sở sản xuất từ các quốc gia thuộc Phụ lục I sang các quốc gia không thuộc Phụ lục I của nghị định thư Kyoto, vì thế tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu là không giảm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nước đang phát triển góp phần đáng kể vào sự gia tăng này. Có thể hiểu rằng việc mở cửa thương mại (tự do hóa thương mại) đã làm tăng lượng phát thải khí nhà kính do sự gia tăng sản xuất và sự dịch chuyển sản xuất từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển.

Ví dụ như: Trong giai đoạn 1990-2008, các nước phát triển công bố rằng đã giảm 2% lượng phát thải khí nhà kính, nhưng khi xét đến dấu vết carbon trong hàng hóa nhập khẩu thì là tăng 7%. Phần lớn sự gia tăng phát thải ở các nước phát triển là do Mỹ, nước hứa hẹn cắt giảm 7% theo Nghị định thư Kyoto nhưng đã không phê chuẩn. Phát thải bên trong biên giới Mỹ đã tăng 17%, nhưng nếu cân bằng các-bon trong hàng hóa nhập khẩu-xuất khẩu đã phát thải của Mỹ đã tăng 25%. Phát thải của Anh đã giảm 28 triệu tấn, nhưng nếu xét đến nhập khẩu-xuất khẩu thì là hơn 100 triệu tấn. Châu Âu giảm được 6%, nhưng khi xét đến việc chuyển sản xuất ra nước ngoài thì chỉ giảm được 1%. Trung Quốc chiếm 75% lượng phát thải ngoài biên giới của các nước phát triển.

Trong hầu hết các trường hợp, rò rỉ các-bon quốc tế được hiểu là có tác động tiêu cực vì làm tăng khí thải tại các các quốc gia đón nhận sự dịch chuyển của các cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, các tác động của rò rỉ các-bon quốc tế cũng có thể mang tính tích cực, có nghĩa là nó có thể làm giảm lượng khí thải tại những quốc gia này do có những phát triển về công nghệ nhằm giảm khí thải, thúc đẩy việc áp dụng những công nghệ xanh. Các tác động này thường được gọi là tác động lan tỏa.

Để giải quyết vấn đề rò rỉ các bon quốc tế, khái niệm "điều chỉnh biên giới các-bon" (Border Carbon Adjusment - BCA) ra đời. Tuy nhiên, mục đích chính của BCA là tạo ra sự cân bằng cạnh tranh về giá của hàng hóa sản xuất tại các nước phát triển đối với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Nói nôm na là đánh thuế các-bon đối với hàng hóa từ các nước đang phát triển nhập khẩu vào các nước phát triển; vì các hàng hóa này được sản xuất bằng các công nghệ kém tiên tiến và không có những quy định nghiêm ngặt về lượng phát thải khí nhà kính. Cộng đồng chung châu Âu dự kiến áp dụng loại rào cản này nhằm giải quyết vấn đề ưu thế so sánh về giá của hàng hóa nhập khẩu, Mỹ đang cân nhắc trong dự thảo Luật Biến đổi khí hậu Dingell-Boucher. Như vậy, nếu BCA được thực hiện thì sẽ gián tiếp buộc các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, vốn ít gây phát thải khí nhà kính trong quá khứ, phải gánh toàn bộ trách nhiệm giảm phát thải khí nhà kính ngay lập tức. Thị trường xuất khẩu chủ lực của dệt may Việt Nam là Mỹ, EU và Nhật Bản vì vậy có thể nhìn thấy ngay mức độ ảnh hưởng của rào cản này đối với các sản phẩm dệt may của Việt Nam nếu như BCA được thực hiện.

Lợi ích thu được từ hiệp định TPP đối với dệt may Việt Nam là rất rõ ràng, từ nhóm các lợi ích khai thác từ thị trường nước ngoài như lợi ích về thuế quan đối với thương mại hàng hóa và lợi ích tiếp cận thị trường đối với thương mại dịch vụ và đầu tư đến nhóm các lợi ích khai thác được tại thị trường trong nước như: lợi ích từ việc giảm thuế hàng nhập khẩu từ các nước TPP, lợi ích từ những khoản đầu tư, dịch vụ đến từ Hoa Kỳ và các nước đối tác TPP, lợi ích từ những thay đổi thể chế hay cải cách để đáp ứng những đòi hỏi chung của TPP, lợi ích từ việc mở rộng thị trường mua sắm và lợi ích từ việc thực thi các tiêu chuẩn về lao động, môi trường. Tuy nhiên cũng cần phải xem xét đến những tác động tiềm ẩn đối với môi trường và đối với chính những sản phẩm dệt may của chúng ta do rào cản từ những nước như Mỹ và EU mang lại.

Thanh Ngân – Ban KTCN Vinatex

Tài liệu tham khảo

Vấn đề thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu đối với Việt Nam, 2012 – PSG.TS Trần Thục Viện KH Khí tượng thủy văn và Môi trường

Greenhouse-Gas Emission Controls and International Carbon Leakage through Trade Liberalization, 2009 - Jota Ishikawa (Hitotsubashi University and RIETI) and Toshihiro Okubo (Kobe University)

Phân tích những lợi ích Việt Nam có thể thu được từ TPP -