Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá tại cửa khẩu Tân Thanh, tỉnh Lạng Sơn và cửa khẩu Móng Cái tỉnh Quảng Ninh còn nhiều tồn tại cần giải quyết. Tại cửa khẩu Tân Thanh tỉnh Lạng Sơn, hiện tượng ách tắc hàng hoá, nhất là việc ách tắc dưa hấu vừa qua bắt buộc các nhà quản lý, những người hoạch định chính sách biên mậu phải tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục kịp thời.
Vậy thì nguyên nhân của hiện tượng đó là gì?
Có nhiều nguyên nhân, trong đó 3 nguyên nhân cốt lõi là:
Thứ nhất là do thể chế, cơ chế chính sách biên mậu của Việt Nam còn rất nhiều bất cập
Thứ hai là do cơ sở hạ tầng, đường giao thông, đặc biệt là hệ thống kho tàng bến bãi cửa khẩu Tân Thanh đã xuống cấp nghiêm trọng và không còn đáp ứng được nhu cầu hàng hoá XNK qua lại.
Thứ ba là do công tác cán bộ, nguồn nhân lực làm công tác biên mậu tại cửa khẩu chưa đáp ứng được đòi hỏi của tình hình mới hiện nay.
Do đó, giải pháp khắc phục cụ thể như sau:
Thứ nhất, phải hoàn thiện cơ chế chính sách biên mậu của VN một cách hoàn chỉnh và đồng bộ. Phải có sự chỉ đạo xuyên suốt, quyết liệt từ Chính phủ đến các Bộ ngành liên quan. Phải có cơ chế chính sách phù hợp động viên, khuyến khích các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu biên mậu. Đặc biệt, phải có sự thống nhất một cách bình đẳng giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong vấn đề kiểm hoá hàng qua cửa khẩu.
Chúng ta hãy nhìn lại cơ chế chính sách biên mậu của Trung Quốc:
Đối với mỗi nước, Trung Quốc đều có chính sách riêng để quy định các doanh nghiệp được quyền kinh doanh biên mậu khác nhau. Đối với khu vực biên giới với Việt Nam (tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây), những công ty được quyền kinh doanh biên mậu bao gồm:
Thứ nhất, các công ty hoặc xí nghiệp có quyền xuất khẩu, nhập khẩu, có thể trực tiếp kinh doanh xuất nhập khẩu biên giới.
Thứ hai, các công ty có quyền kinh doanh uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu biên giới, những công ty này phải được sự phê chuẩn của cơ quan chủ quản cho phép làm thủ tục đại lý uỷ thác dài hạn, được quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu và phải trả một số tiền phí đại lý nhất định.
Thứ ba, các công ty không có quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu, chỉ có quyền uỷ thác. Loại công ty này phải ký hợp đồng đại lý biên mậu uỷ thác cho hai loại công ty trên và phải trả một khoản phí đại lý nhất định. Sự khác biệt của loại thứ nhất và thứ hai là có quyền kinh doanh biên mậu trực tiếp, còn loại thứ ba chỉ có thể kinh doanh gián tiếp, tức là được đại lý kinh doanh mậu dịch biên giới.
Chế độ cấp giấy phép cho xuất khẩu, nhập khẩu biên mậu là một biện pháp bảo hộ thông thường đối với các doanh nghiệp trong khu vực biên giới. Cơ quan hành chính cấp huyện/thị của Trung Quốc sẽ cấp giấy phép xuất nhập khẩu biên mậu cho các doanh nghiệp trên địa bàn của mình. Nội dung chủ yếu của giấy phép xuất nhập khẩu biên mậu bao gồm: tên hàng, quy cách, nước, số lượng, đơn vị, số kiện, đơn giá, phương thức vận chuyển, phương thức mậu dịch, phương thức thanh toán.
Quản lý chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu là vấn đề quan trọng, đảm bảo lợi ích của Nhà nước và nhân dân, trực tiếp liên quan đến khả năng đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước Trung Quốc. Quản lý chất lượng hàng hoá liên quan đến các vấn đề mở rộng thị trường tiêu thụ, nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng cường sức cạnh tranh hàng hoá xuất nhập khẩu.
Để quản lý tốt chất lượng hàng hoá xuất nhập khẩu, Trung Quốc coi trọng công tác kiểm nghiệm và kiểm dịch hàng hoá.
Trung Quốc quản lý ngoại hối biên mậu theo phương châm “quản lý tập trung” thông qua các chính sách, chế độ, biện pháp và chấp hành giám quản do Cục Quản lý ngoại hối, vốn ngoại hối của Trung Quốc thống nhất quản lý và phân phối. Tất cả các nghiệp vụ ngoại hối biên mậu của các ngân hành đều do Cục quản lý ngoại hối quốc gia phê chuẩn, gồm: kinh doanh kết toán quốc tế, tổng hối quốc tế, vay ngoại hối, mua bán ngoại hối.
Thu thuế là đòn bẩy điều tiết biên mậu, là công cụ chủ yếu thực hiện chính sách biên mậu của Trung Quốc. Ngoài thu thuế xuất nhập khẩu, còn thu thuế doanh nghiệp, thuế và lệ phí sử dụng xe, tàu, thuyền, thuế doanh thu xí nghiệp quốc doanh, thuế điều tiết, thuế xây dựng cơ bản giao thông trọng điểm quốc gia.
Căn cứ vào các chính sách ưu tiên cho các thành phố, huyện thị biên giới mở cửa mà thành phố Nam Ninh, Côn Minh, thị xã Bằng Tường, Đông Hưng, huyện Hà Khẩu thuộc tỉnh Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc được phân cấp quản lý thu thuế biên mậu. Toàn bộ số tiền thu được để lại cho địa phương đầu tư hạ tầng cơ sở. Trung Quốc giao quyền cho chính quyền địa phương tự định ra các mức thuế suất phải thu theo nguyên tắc: mức thuế mặt hàng cùng chủng loại cấp tỉnh quy định phải thấp hơn mức thuế của Trung ương; mức thuế cấp huyện, thị quy định phải thấp hơn mức thuế của cấp tỉnh và chỉ được thu ở các cửa khẩu địa phương, còn các cửa khẩu quốc tế do Hải quan thu và nộp về ngân sách Trung ương.
Việc quản lý xuất nhập cảnh, quản lý trật tự an ninh biên giới của Trung Quốc hiện đang thực hiện theo quy phạm pháp luật chủ yếu: Thứ nhất, Luật Quản lý công dân xuất nhập cảnh của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; thứ hai, Luật Quản lý người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa; thứ ba, Điều lệ Kiểm tra biên phòng của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
Chính sách ưu đãi biên mậu thực sự thúc đẩy sản xuất địa phương. Trung Quốc thu hút một lượng tài nguyên quan trọng của Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, như các loại quặng sắt, đồng, nhôm, chì, kẽm, các loại nhiên liệu hoá thạch, các loại nông, lâm, rau quả, thủy hải sản thô hoặc sơ chế như gỗ, cao su thiên nhiên, dầu dừa, dầu cọ, sắn lát khô, v.v… Trung Quốc đã nhập khẩu được qua đường biên mậu rất nhiều nguyên, nhiên liệu thô, sơ chế mà thông qua mậu dịch quốc tế rất khó mua được như gỗ, hoá chất, quặng quý hiếm... từ Việt Nam.
Tuy nhiên, nhờ chính sách ưu đãi biên mậu của Trung Quốc, Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc xuất khẩu tiểu ngạch các mặt hàng sang Trung Quốc. Trong giai đoạn từ năm 2008 trở về trước, khi mức thuế suất nhập khẩu trung bình của Trung Quốc là 12% và VAT là 17% , với mức ưu đãi giảm 50% thuế trong hoạt động nhập khẩu tiểu ngạch đã tạo ra hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch của các thương nhân Việt Nam.
Nói tóm lại, chính sách ưu đãi nhập khẩu tiểu ngạch của Trung Quốc dành cho các thành phần tham gia kinh doanh biên mậu, ưu đãi các mặt hàng nhập khẩu biên mậu, ưu đãi về giấy chứng nhận hàng hoá nhập khẩu biên mậu, ưu đãi về quản lý chất lượng hàng hoá, kiểm tra vệ sinh, kiểm dịch động - thực vật hàng hoá nhập khẩu biên mậu, ưu đãi về ngoại hối biên mậu, đặc biệt là ưu đãi về thuế và lệ phí ngay tại các cửa khẩu, lối mở biên giới đã thúc đẩy phát triển hoạt động xuất khẩu tiểu ngạch hàng hoá của Việt Nam sang Trung Quốc trong những năm qua phát triển.
Trong những năm qua, chính quyền địa phương các tỉnh biên giới Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên trao đổi, giao lưu nhằm tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới. Trong khuôn khổ pháp luật và chính sách hiện hành, chính quyền các cấp hai bên biên giới thường xuyên thông báo cho nhau chính sách thương mại biên giới của mình, phối hợp giải quyết những vấn đề nảy sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới, đề xuất kiến nghị giải pháp duy trì hoạt động thương mại biên giới hai nước phát triển lành mạnh và ổn định.
Kể từ năm 2001, Hội chợ thương mại biên giới Việt – Trung do tỉnh Lào Cai và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc phối hợp thường niên luân phiên tổ chức tại thành phố Lào Cai và thị trấn Hà Khẩu (Trung Quốc) đã không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Qua các kỳ hội chợ, đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc mở rộng thị trường, tìm kiếm đối tác, đẩy mạnh liên doanh, liên kết, từ đó thúc đẩy kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu biên giới Việt – Trung. Đối với các kỳ hội chợ được tổ chức tại Vân Nam, phía Trung Quốc đã có chính sách cho doanh nghiệp Việt Nam được hưởng miễn tất cả các loại thuế, lệ phí cho hàng hoá bán tại hội chợ. Bên cạnh đó, các địa phương biên giới phía Trung Quốc như Đông Hưng, Bằng Tường, Thiên Bảo… thường xuyên tổ chức các hội chợ và tạo điều kiện cho hàng hoá và doanh nghiệp của Việt Nam.
Qua đó chúng ta thấy, Trung Quốc đã có bước tiến xa, rất linh hoạt trong chính sách biên mậu. Đây chính là động lực cho kim ngạch xuất nhập khẩu biên mậu của Trung Quốc ngày một tăng nhanh, tăng mạnh, góp phần phát triển kinh tế của đất nước.
Do đó, cần phải có giải pháp khắc phục cụ thể để chính sách biên mậu của Việt Nam hoàn thiện, tạo đà phát triển cho hoạt động xuất nhập khẩu biên mậu nói chung và xuất nhập khẩu tiểu ngạch qua biên giới Việt Nam – Trung Quốc nói riêng. Cụ thể là:
Thứ nhất, phải hoàn thiện cơ chế chính sách biên mậu của Việt Nam một cách hoàn chỉnh và đồng bộ. Phải có sự chỉ đạo xuyên suốt, quyết liệt từ Chính phủ đến các Bộ ngành liên quan. Phải có cơ chế chính sách phù hợp động viên, khuyến khích các doanh nghiệp xuất nhập khẩu biên mậu. Đặc biệt, phải có sự thống nhất một cách bình đẳng giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong vấn đề kiểm hoá hàng qua cửa khẩu.
Việt Nam cần phải đầu tư nghiên cứu cơ chế chính sách biên mậu để giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu ngày một tốt hơn. Cụ thể, chúng ta phải có những chính sách tăng vốn đầu tư cho khu vực biên giới, các dự án tăng cường phát triển cho các vùng dân tộc thiểu số, biên giới còn nhiều khó khăn, nhất là chính sách ưu đãi phát triển biên mậu và hợp tác khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc. Phải có chính sách hỗ trợ thương nhân, hỗ trợ mặt hàng cụ thể trong hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc.
Thứ hai, phải hoàn thiện, nâng cấp và đầu tư mới cơ sở hạ tầng giao thông, nhất là hạ tầng thương mại tại cửa khẩu. Hệ thống cơ sở hạ tầng tại cửa khẩu Tân Thanh tỉnh Lạng Sơn hiện nay đã xuống cấp nghiêm trọng và không đáp ứng được nhu cầu hàng hoá qua lại. Vấn đề đặt ra là phải xây dựng, đầu tư một hệ thống cửa khẩu hoàn chỉnh, đồng bộ theo mô hình một tổ hợp công trình bao gồm hệ thống kho ngoại quan, kho lạnh, một hệ thống công trình dịch vụ phụ trợ phục vụ cửa khẩu…Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu hàng hoá ngày càng tăng và các doanh nghiệp của Việt Nam hoàn toàn chủ động trong việc xuất nhập khẩu hàng hoá sang Trung Quốc bằng con đường biên mậu này.
Thứ ba, phải đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức để điều hành hoạt động tại cửa khẩu. Đây là công tác trọng tâm, lâu dài và quan trọng nhất.
Như vậy, hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá qua biên giới đất liền là một cơ chế thương mại đặc biệt. Các quốc gia có thể đơn phương ban hành chính sách về quản lý xuất nhập khẩu tiểu ngạch hoặc ký kết điều ước với các nước có chung biên giới về tạo điều kiện cho xuất nhập khẩu tiểu ngạch mà không phải tuân thủ các cam kết quốc tế song phương hoặc đa phương khác. Chính sách ưu đãi đặc biệt của hoạt động xuất nhập khẩu tiểu ngạch hàng hoá nhằm mục tiêu khuyến khích hoạt động kinh tế - thương mại vùng biên giới nói chung, đặc biệt là vùng biên giới Việt Nam – Trung Quốc nói riêng.
Tình hình kinh tế biên mậu tại một số cửa khẩu lớn của Việt Nam, thực trạng và hướng giải quyết
TCCT
Cho đến nay, Việt Nam chưa có được một chiến lược tổng thể linh hoạt, nhất quán về thương mại biên giới nói chung và thương mại biên giới với Trung Quốc nói riêng. Việt Nam đã bước đầu xây dựng được n
