I. KINH TẾ
1. Tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 đạt 3,1% so với cùng kỳ năm 2008, là quý có mức tăng thấp nhất trong những năm gần đây, nhưng đến quý II/2009 đã tăng 4,5% và quý III/2009 tăng 5,8%. Tính chung 9 tháng, tổng sản phẩm trong nước tăng 4,6% so với cùng kỳ năm 2008, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,5% (công nghiệp tăng 3,3%, xây dựng tăng cao với 9,7%); khu vực dịch vụ tăng 5,9%.
Mức tăng trưởng kinh tế các quý trong 9 tháng năm nay cho thấy xu hướng phục hồi của nền kinh tế nước ta ngày càng rõ nét hơn. Kết quả đạt được đánh dấu thành công bước đầu của Chính phủ trong chỉ đạo và điều hành vĩ mô nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 9 tháng theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước; bao gồm nông nghiệp tăng 2,3%; lâm nghiệp tăng 2,8%; thuỷ sản tăng 3,3%.
a. Nông nghiệp
Tính đến trung tuần tháng 9/2009, cả nước đã gieo cấy được 1704,2 nghìn ha lúa mùa, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước và thu hoạch được 1,8 triệu ha lúa hè thu, chiếm 76% diện tích gieo cấy. Sản lượng lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 11,3 triệu tấn, giảm 116,3 nghìn tấn so với vụ hè thu năm trước do diện tích và năng suất giảm, trong đó diện tích ước tính đạt 2360,4 nghìn ha, giảm 8,3 nghìn ha; năng suất đạt 47,8 tạ/ha, giảm 0,3 tạ/ha.
Diện tích lúa mùa cả nước năm nay ước tính đạt 2008,2 nghìn ha, giảm 10,2 nghìn ha so với vụ mùa năm trước do một phần diện tích được chuyển sang gieo cấy lúa hè thu; sản lượng đạt 9,1 triệu tấn, tăng 62,6 nghìn tấn. Ước tính diện tích gieo cấy lúa cả năm 2009 đạt 7429,4 nghìn ha, tăng 29,2 nghìn ha so với năm 2008; năng suất đạt 52,6 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha và sản lượng đạt 39 triệu tấn, tăng 316 nghìn tấn.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm tuy gặp khó khăn do dịch bệnh nhưng phạm vi và mức độ ảnh hưởng không lớn nên nhìn chung vẫn phát triển tốt. Đàn trâu được duy trì ổn định; đàn bò ước tính tăng 2-3% so với năm 2008; đàn lợn tăng 3-4%; đàn gia cầm tăng mạnh ở mức 8-9%; sản lượng sản phẩm chăn nuôi tăng 7-8%.
b. Lâm nghiệp
Diện tích rừng trồng tập trung của cả nước trong 9 tháng ước tính đạt 158 nghìn ha, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh đạt 742 nghìn ha, tăng 1,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 2581 nghìn m3, tăng 6%. Trong 9 tháng qua, diện tích rừng bị thiệt hại là 3100 ha, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước; trong đó diện tích rừng bị cháy 1590 ha; diện tích rừng bị chặt phá 1510 ha. Các địa phương có diện tích rừng bị cháy nhiều là: Hà Giang 381 ha; Yên Bái 201,4 ha; Lạng Sơn 144,8 ha; Sơn La 133,6 ha.
c. Thuỷ sản
Sản lượng thủy sản 9 tháng ước tính đạt 3623,3 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 2755,3 nghìn tấn, tăng 3,7%; tôm đạt 380,4 nghìn tấn, tăng 3,6%.
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 9 tháng ước tính đạt 1945,6 nghìn tấn, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2008, chủ yếu do một số địa phương chuyển sang nuôi theo hướng đa canh, đa con, kết hợp trồng lúa và nuôi cá, đồng thời phát triển nuôi cá lồng, bè nên sản lượng cá nuôi đã tăng 1,3%. Bên cạnh đó, giống tôm thẻ chân trắng cho năng suất cao, khả năng thích nghi với môi trường nước tốt cũng được thả nuôi ở hầu hết các địa phương.
Khai thác thuỷ sản có nhiều thuận lợi do ngư dân được Nhà nước hỗ trợ mua và đóng mới tàu, thuyền; bên cạnh đó thời tiết ngư trường tương đối ổn định nên sản lượng thuỷ sản khai thác 9 tháng năm nay ước tính đạt 1677,7 nghìn tấn, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất trong 8 năm trở lại đây.
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp có chuyển biến tích cực và đạt mức tăng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 9/2009 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước, tính chung 9 tháng năm 2009 tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2008. Giá trị sản xuất của công nghiệp khai thác 9 tháng năm nay ước tính tăng 9,8%; công nghiệp chế biến tăng 6,1%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, ga, nước tăng 10,2%.
Trong 9 tháng năm 2009, sản lượng một số sản phẩm công nghiệp quan trọng có mức tăng cao so với cùng kỳ năm 2008 là: Điều hoà nhiệt độ tăng 48,2%; tủ lạnh, tủ đá tăng 30,9%; xà phòng giặt tăng 21,3%; thép tròn tăng 18,8%; xi măng tăng 18,3%; dầu thô khai thác tăng 17,6%; giày, dép, ủng bằng da giả tăng 16,8%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm 2008 như: xe tải giảm 3,1%; thuỷ hải sản chế biến giảm 5,6%; phân hoá học giảm 5,7%; gạch lát ceramic giảm 6,7%; xe chở khách giảm 9,7%; giấy, bìa giảm 13,8%; quần áo người lớn giảm 17,1%; đường kính giảm 21,2%.
Một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có giá trị sản xuất 9 tháng tăng cao hơn mức tăng chung của cả nước là: Quảng Ninh tăng 13,3%; Thanh Hoá tăng 11,3%; Bà Rịa-Vũng Tàu tăng 10,9%; Cần Thơ tăng 9,3%; Khánh Hoà tăng 8,4%; Đồng Nai tăng 8,1%; Bình Dương tăng 7,9%; Hà Nội tăng 7,7%. Một số địa phương khác có giá trị sản xuất 9 tháng tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước là: thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,4%; Đà Nẵng tăng 4,3%; Hải Dương tăng 1,7%; Phú Thọ giảm 0,8%; Vĩnh Phúc giảm 6,2%.
4. Vốn đầu tư
Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng ước tính đạt 483,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước 174,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 36% và tăng 45,5%; vốn khu vực ngoài Nhà nước 189,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,3% và tăng 12,6%; vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài 119,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 24,7% và giảm 11,2%.
Trong vốn đầu tư khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 9 tháng ước tính đạt 96,5 nghìn tỷ đồng, bằng 67% kế hoạch năm, vốn trung ương quản lý đạt 41 nghìn tỷ đồng, bằng 72,4% kế hoạch năm; vốn địa phương quản lý đạt 55,5 nghìn tỷ đồng, bằng 63,5% kế hoạch năm
Thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến 19/9/2009 đạt 12,6 tỷ USD, giảm 78,6% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm: Vốn đăng ký mới 7,7 tỷ USD của 583 dự án được cấp phép (giảm 85,7% về vốn và giảm 57,3% về số dự án so với cùng kỳ năm trước); vốn đăng ký bổ sung 4,9 tỷ USD của 168 lượt dự án được cấp phép từ các năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 9 tháng ước tính đạt 7,2 tỷ USD, giảm 11,2% so với cùng kỳ năm 2008.
Một số quốc gia và vùng lãnh thổ có lượng vốn đầu tư cao vào Việt Nam trong 9 tháng là: Samoa dẫn đầu với 1,7 tỷ USD, chiếm 22,2% tổng vốn đăng ký mới; tiếp đến là Đài Loan với 1,3 tỷ USD, chiếm 17,4%; Hàn Quốc 1,3 tỷ USD, chiếm 16,9%; quần đảo Virgin thuộc Anh 1 tỷ USD, chiếm 13,3%; đặc khu HC Hồng Kông (TQ) 732,9 triệu USD, chiếm 9,6%; Liên bang Nga 345,7 triệu USD, chiếm 4,5%; Xin-ga-po 344,5 triệu USD, chiếm 4,5%; Ma-lai-xi-a 143,8 triệu USD, chiếm 1,9%.
5. Thu chi ngân sách Nhà nước
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2009 ước tính bằng 70,4% dự toán năm, trong đó các khoản thu nội địa bằng 72,1%; thu từ dầu thô bằng 61,5%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu bằng 71,6%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến 15/9/2009 ước tính bằng 67,2% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển bằng 67,2% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng 66%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể bằng 69,6%; chi trả nợ và viện trợ bằng 70,7%.
6. Thương mại, giá cả, dịch vụ
a. Bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 845,4 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2008. Nếu loại trừ yếu tố giá thì tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng tăng 10,2%. Trong tổng số, kinh doanh thương nghiệp đạt 662,5 nghìn tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2008; khách sạn nhà hàng đạt 95,9 nghìn tỷ đồng, tăng 16,3%; dịch vụ đạt 78,8 nghìn tỷ đồng, tăng 19,1%; du lịch đạt 8,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,6%.
b. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
Tính chung 9 tháng năm 2009, kim ngạch hàng hoá xuất khẩu ước tính đạt 41,7 tỷ USD, giảm 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 20,3 tỷ USD, giảm 8,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) đạt 16,7 tỷ USD, giảm 6,3%.
Nhiều mặt hàng chủ yếu có lượng xuất khẩu tăng nhưng do giá giảm dẫn đến kim ngạch giảm là: Dầu thô 9 tháng đạt 4,8 tỷ USD, tăng 8,6% về lượng và giảm 45,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2008; gạo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 34,1% về lượng và giảm 7,8% về kim ngạch; cà phê đạt 1,3 tỷ USD, tăng 14,4% về lượng và giảm 19,7% về kim ngạch; than đá đạt 913 triệu USD, tăng 2,4% về lượng và giảm 21,2% về kim ngạch; cao su đạt 734 triệu USD, tăng 7% về lượng và giảm 41% về kim ngạch.
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản 9 tháng đạt 3 tỷ USD, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2008; giày dép đạt 3 tỷ USD, giảm 13,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,8 tỷ USD, giảm 14,2%. Nếu tính giá trị xuất khẩu của 8 mặt hàng có lượng (gồm: Hạt điều, cà phê, chè, hạt tiêu, gạo, than đá, cao su, dầu thô) theo giá bình quân cùng kỳ năm 2008 thì tổng kim ngạch xuất khẩu 9 tháng năm nay ở mức 49,7 tỷ USD, tăng 1% so với cùng kỳ năm trước thay vì giảm 14,3%.
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 9 tháng ước tính đạt 48,3 tỷ USD, giảm 25,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm khu vực kinh tế trong nước đạt 31 tỷ USD, giảm 28,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,3 tỷ USD, giảm 18,9%.
Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu 9 tháng giảm một mặt do lượng nhập giảm, mặt khác do giá trên thị trường thế giới giảm, trong đó máy móc thiết bị phụ tùng đạt 8,3 tỷ USD, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước; xăng dầu đạt 4,5 tỷ USD, giảm 52,6% (lượng giảm 4,4%); sắt thép đạt 3,8 tỷ USD, giảm 35,5% (lượng tăng 1,2%); vải 3 tỷ USD, giảm 8,7%; điện tử máy tính và linh kiện 2,7 tỷ USD, giảm 0,6%; chất dẻo đạt 2 tỷ USD, giảm 13,7% (lượng tăng 25,3%); ôtô 1,8 tỷ USD, giảm 23,9%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 1,4 tỷ USD, giảm 2,9%; nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 1,4 tỷ USD, giảm 23,7%.
Nhập siêu hàng hoá 9 tháng năm 2009 ước tính 6,5 tỷ USD, bằng 15,7% tổng kim ngạch hàng hoá xuất khẩu và chỉ bằng 41,2% mức nhập siêu cùng kỳ năm trước.
c. Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2009 tăng 0,62% so với tháng trước, trong đó các nhóm hàng hoá và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là: Nhóm giáo dục tăng cao nhất với 4,33%; tiếp đến là nhóm phương tiện đi lại, bưu điện tăng 2,37%; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,87%; nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,75%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,67%. Các nhóm hàng hoá và dịch vụ chủ yếu khác tăng ở mức thấp gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,37%; văn hoá, thể thao, giải trí tăng 0,25%; dược phẩm, y tế tăng 0,19%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,05%.
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2009 so với tháng 12/2008 tăng 4,11%; so với cùng kỳ năm trước tăng 2,42%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm nay tăng 7,64% so với bình quân 9 tháng năm 2008.
d. Vận tải hành khách và hàng hoá
Vận chuyển hành khách 9 tháng ước tính đạt 1465,4 triệu lượt khách và 64,1 tỷ lượt khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,5% về lượt khách và tăng 4,9% về lượt khách.km, Vận tải hành khách đường bộ 9 tháng đạt 1322,1 triệu lượt khách và 45,9 tỷ lượt khách.km, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,3% về lượt khách và tăng 7,6% về lượt khách.km; đường sông đạt 122 triệu lượt khách và 2,4 tỷ lượt khách.km, tăng 4,3% về lượt khách và tăng 3,1% về lượt khách.km; đường biển đạt 4,4 triệu lượt khách và 277,5 triệu lượt khách.km, tăng 8,3% về lượt khách và tăng 6% về lượt khách.km. Riêng vận tải đường sắt giảm 1,4% về lượt khách vận chuyển và giảm 9% về lượt khách luân chuyển; vận tải đường không tăng 3,5% về lượt khách vận chuyển nhưng giảm 1,8% về lượt khách luân chuyển.
Khối lượng hàng hóa vận chuyển 9 tháng ước tính đạt 473,9 triệu tấn và 137,5 tỷ tấn.km, tăng 3,2% về tấn và tăng 8,7% về tấn.km so với cùng kỳ năm 2008. Vận tải hàng hoá đường bộ 9 tháng đạt cao nhất với 345 triệu tấn và 17,4 tỷ tấn.km, tăng 5% về tấn và tăng 4,5% về tấn.km so với cùng kỳ năm trước; đường sông đạt 89,5 triệu tấn và 14,3 tỷ tấn.km, tăng 0,8% về tấn và tăng 1,1% về tấn.km; đường biển đạt 33,3 triệu tấn và 102,8 tỷ tấn.km, giảm 2,6% về tấn và tăng 10,3% về tấn.km; đường sắt đạt 6,1 triệu tấn và 2,8 tỷ tấn.km, giảm 6,4% về tấn và giảm 12,6% về tấn.km.
e. Bưu chính, viễn thông
Số thuê bao điện thoại mới trong 9 tháng cả nước ước tính đạt 32,3 triệu thuê bao, tăng 74,1% so với cùng kỳ năm 2008, bao gồm 3,5 triệu thuê bao cố định, tăng 81,7% và 28,8 triệu thuê bao di động, tăng 73,3%. Số thuê bao điện thoại cả nước tính đến cuối tháng 9/2009 ước tính đạt 113,6 triệu thuê bao, tăng 61,4% so với cùng thời điểm năm trước, bao gồm 17,6 triệu thuê bao cố định, tăng 31,6% và 96 triệu thuê bao di động, tăng 68,4%.
Số thuê bao internet băng rộng trên cả nước tính đến cuối tháng 9/2009 ước tính đạt 2,7 triệu thuê bao, tăng 46,2% so với cùng thời điểm năm trước. Tổng doanh thu thuần bưu chính, viễn thông 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 60,5 nghìn tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước.
f. Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta 9 tháng ước tính đạt 2773,9 nghìn lượt người, giảm 16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến với mục đích du lịch, nghỉ dưỡng đạt 1662,7 nghìn lượt người, giảm 19,2%; đến vì công việc 523,6 nghìn lượt người, giảm 20,4%; thăm thân nhân đạt 439,1 nghìn lượt người, tăng 6,1%. Lượng khách quốc tế đến nước ta từ Trung Quốc đạt 338,6 nghìn lượt người, giảm 32,3%; Hoa Kỳ 329,2 nghìn lượt người, giảm 0,7%; Hàn Quốc 287,1 nghìn lượt người, giảm 19,9%; Nhật Bản 254,5 nghìn lượt người, giảm 14,6%; Đài Loan 213,2 nghìn lượt người, giảm 13,1%; Ôx-trây-li-a 158,6 nghìn lượt người, giảm 12,3%; Ma-lai-xi-a 120 nghìn lượt người, giảm 5,6%.
II. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Dân số
Theo kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, dân số cả nước tại thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85,8 triệu người. Tốc độ tăng dân số bình quân thời kỳ 1999-2009 là 1,2%. Trong tổng dân số, dân số thành thị 25,4 triệu người, chiếm 29,6% tổng dân số; dân số nông thôn 60,4 triệu người, chiếm 70,4%; dân số nam 42,5 triệu người; dân số nữ 43,3 triệu người. Tỷ lệ giới tính của dân số năm 2009 ở mức 98,1 nam trên 100 nữ.
2. Hỗ trợ thiệt hại do thiên tai và bảo đảm đời sống dân cư
Trong 9 tháng, thiên tai xảy ra đã làm 141 người chết và mất tích; 135 người bị thương; 800 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi; hơn 33 nghìn ngôi nhà bị sạt lở; hơn 100 nghìn ha lúa và hoa màu bị ngập nước, hư hỏng, trong đó trên 13 nghìn ha bị mất trắng (chưa có kết quả thiệt hại do cơn bão số 9 gây ra). Tổng giá trị thiệt hại do thiên tai gây ra ước tính 1383 tỷ đồng. Tổng số tiền cứu trợ cho các gia đình bị thiệt hại do thiên tai gây ra trong 9 tháng là 124,9 tỷ đồng và 27,4 nghìn tấn gạo, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 105,5 tỷ.
Kết quả thực hiện các chương trình và dự án hỗ trợ của Chính phủ để thực hiện mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội đã góp phần bảo đảm ổn định đời sống dân cư, tình trạng thiếu đói giáp hạt ở khu vực nông thôn đã giảm đáng kể. Trong 9 tháng năm 2009, số lượt hộ thiếu đói giảm 40,8% và số lượt nhân khẩu thiếu đói giảm 37,6%. Từ đầu năm, các hộ thiếu đói đã được hỗ trợ 33 nghìn tấn lương thực và trên 41 tỷ đồng.
Đời sống của bộ phận những người làm công ăn lương cũng được cải thiện đáng kể, mức lương tối thiểu đã tăng 20%, từ 540 nghìn đồng/tháng lên 650 nghìn đồng/tháng theo Nghị định số 33/2009/NĐ-CP ngày 06/4/2009 của Chính phủ. Cũng theo Nghị định này, trợ cấp hàng tháng của những đối tượng hưởng lương hưu cũng được tăng thêm 5%. Ngoài ra trong 4 tháng đầu năm, những cán bộ viên chức có hệ số lương dưới 3,0 cũng được phụ thêm 90 nghìn đồng mỗi tháng.
3. Giáo dục, đào tạo
a. Giáo dục
Kết thúc năm học 2008-2009, cả nước có 765,1 nghìn học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông, đạt 83,8% và 52,8 nghìn học sinh tốt nghiệp bổ túc trung học, đạt 39,6%. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông cao là: Nam Định 98,3%; Hà Nam 97,4%; Thái Bình 96,9%; thành phố Hồ Chí Minh 94,6%; Bắc Ninh 94,1%; Hải Phòng 93,7%; Lâm Đồng 93,4%.
Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn của mẫu giáo chiếm 94,7% tổng số giáo viên mẫu giáo; tiểu học chiếm 98%; trung học cơ sở chiếm 97,5% và trung học phổ thông chiếm 97,8%. Phong trào xây dựng trường chuẩn quốc gia cũng đạt được kết quả quan trọng. Tính đến tháng 8/2009, cả nước có 1644 trường mầm non; 5254 trường tiểu học; 1573 trường trung học cơ sở và 201 trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia.
Theo số liệu sơ bộ, đầu năm học 2009-2010, cả nước có 580 nghìn trẻ em được gửi nhà trẻ, tăng 17,2% so với năm học trước; 2890 nghìn trẻ em học mẫu giáo, tăng 4,2%; 6840 nghìn học sinh tiểu học, tăng 1,4%; 5930 nghìn học sinh trung học cơ sở, tăng 7,2% và 3181 nghìn học sinh trung học phổ thông, tăng 6,3%.
b. Đào tạo
Trong kỳ thi tuyển sinh đại học và cao đẳng năm 2009, cả nước có 1614,7 nghìn lượt thí sinh dự thi, giảm 3% so với kỳ thi năm 2008, bao gồm 1261,9 nghìn lượt thí sinh dự thi đại học, tăng 1,2% và 352,8 nghìn lượt thí sinh dự thi vào hệ cao đẳng, giảm 15,3%.
Công tác đào tạo nghề đang được các cấp, các ngành quan tâm đầu tư. Mạng lưới các cơ sở dạy nghề phát triển mạnh ở các địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. Tính đến cuối tháng 6/2009, cả nước có 102 trường cao đẳng nghề, tăng 10% so với thời điểm cuối năm 2008; 270 trường trung cấp nghề, tăng 8% và 711 trung tâm dạy nghề, tăng 3%. Số học sinh được tuyển mới vào các trường và trung tâm dạy nghề trong 9 tháng năm 2009 ước tính đạt 1645 nghìn lượt người, tăng 7% so với năm 2008, bao gồm 75 nghìn lượt học sinh cao đẳng nghề; 230 nghìn lượt học sinh trung cấp nghề và 1340 nghìn lượt học sinh sơ cấp nghề.
4. Y tế và chăm sóc sức khoẻ dân cư
Trong 9 tháng, cả nước có 57,1 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết, tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó 44 trường hợp đã tử vong; 5 nghìn trường hợp mắc bệnh viêm gan vi rút, tăng 2,6%; 700 trường hợp viêm não vi rút, tăng 27,5%, trong đó 15 trường hợp tử vong; 1,1 nghìn trường hợp mắc bệnh thương hàn, gấp 2 lần và 232 trường hợp viêm màng não do mô cầu, giảm 33,1%.
Dịch cúm A(H1N1) vẫn đang diễn biến phức tạp với tốc độ lây lan nhanh, đặc biệt trong khu vực trường học. Tính đến ngày 28/9/2009, cả nước ghi nhận có 8605 trường hợp dương tính với cúm A (H1N1), trong đó 14 người đã tử vong. Số bệnh nhân đã khỏi và ra viện là 6736 người, các trường hợp còn lại hiện đang được cách ly, điều trị tại các bệnh viện, cơ sở điều trị, giám sát cộng đồng trong tình trạng sức khỏe ổn định.
Số trường hợp nhiễm HIV/AIDS tại các địa phương vẫn tiếp tục gia tăng. Tính từ ca phát hiện đầu tiên cho đến ngày 20/9/2009, trên địa bàn cả nước đã có 197,5 nghìn trường hợp nhiễm HIV/AIDS, trong đó 77,3 nghìn người đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 43,8 nghìn người đã tử vong do AIDS.
5. Thành tích thể thao và bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Tại giải Vovinam thế giới lần thứ nhất tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam giành vị trí nhất toàn đoàn với 23 huy chương vàng, 4 huy chương bạc và 2 huy chương đồng; tại giải Vovinam tiền AIG 3, đoàn thể thao nước ta cũng giành được 4 huy chương vàng, 1 huy chương bạc và 2 huy chương đồng; đặc biệt tại giải Paragames 5 tổ chức tại Ma-lai-xi-a, đoàn thể thao người khuyết tật Việt Nam đã thi đấu xuất sắc, đứng vị trí thứ 3 toàn đoàn với 73 huy chương vàng, 57 huy chương bạc và 45 huy chương đồng.
Trong hoạt động thể thao thành tích cao, ngành Thể dục Thể thao đã tổ chức thành công 16 giải thi đấu thể thao quốc tế trong nước và tuyển chọn vận động viên tham dự 64 giải thi đấu ở nước ngoài với thành tích 508 huy chương các loại, bao gồm 186 huy chương vàng, 145 huy chương bạc và 167 huy chương đồng.
Công tác thanh tra, kiểm tra và phòng chống tệ nạn xã hội được triển khai thường xuyên và tích cực tại các địa phương. Theo báo cáo sơ bộ, trong 9 tháng qua, thanh tra toàn ngành đã tiến hành kiểm tra 7,2 nghìn cơ sở kinh doanh và hoạt động dịch vụ văn hoá, kết quả đã phát hiện và xử lý gần 1,5 nghìn cơ sở vi phạm; xử phạt hành chính 6,6 tỷ đồng; đình chỉ hoạt động của 103 cơ sở; tịch thu và tiêu huỷ hàng triệu băng đĩa, văn hóa phẩm có nội dung không lành mạnh.
6. Tai nạn giao thông
Tính chung 8 tháng năm 2009, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 8197 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7694 người và làm bị thương 5127 người, trong đó tai nạn giao thông đường bộ chiếm 94% về số vụ; 96% về số người chết và 96% về số người bị thương. So với cùng kỳ năm 2008, số vụ tai nạn giao thông giảm 3,8%; số người chết giảm 0,6% và số người bị thương giảm 7,7%. Bình quân một ngày trong 8 tháng năm 2009, trên địa bàn cả nước xảy ra 34 vụ tai nạn giao thông, làm chết 32 người và làm bị thương 21 người.
Khái quát lại, trong bối cảnh khó khăn của khủng hoảng kinh tế thế giới, kinh tế-xã hội 9 tháng năm 2009 của nước ta vẫn đạt được kết quả tích cực. Các cân đối vĩ mô được duy trì ở mức hợp lý; sản xuất công nghiệp phát triển; sản lượng xuất khẩu của nhiều mặt hàng vẫn giữ được mức tăng khá; công tác an sinh xã hội được tăng cường; củng cố lòng tin của nhân dân. Những kết quả đạt được trong 9 tháng qua thể hiện sự nỗ lực và cố gắng rất lớn của Đảng, Chính phủ, của cộng đồng doanh nghiệp, các tập đoàn và của mỗi người dân; là kết quả của sự thống nhất đồng thuận trong hành động của các cấp, các ngành từ trung ương đến địa phương. Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong 9 tháng, với những thuận lợi và khó khăn của nền kinh tế từ nay đến cuối năm, có thể dự báo tăng trưởng kinh tế cả năm 2009 đạt 5-5,2%. Để đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội cả năm 2009, một số vấn đề chủ yếu sau đây cần được chú trọng trong những tháng tiếp theo:
Một là, khủng hoảng kinh tế thế giới là thời kỳ nền kinh tế trong nước bộc lộ rõ nhất những yếu kém nội tại, đây là thời điểm chúng ta phải chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để nhanh chóng thực hiện cấu trúc lại nền kinh tế trong sự gắn kết chặt chẽ với cấu trúc lại doanh nghiệp. Theo đó, Nhà nước cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho cấu trúc lại doanh nghiệp, đồng thời đẩy nhanh quá trình cải cách thủ tục hành chính liên quan đến phát triển doanh nghiệp.
Hai là, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của nền kinh tế theo hướng thực hiện tái cơ cấu vốn đầu tư. Tập trung giải ngân có hiệu quả các nguồn vốn xây dựng cơ bản để bảo đảm tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, đồng thời vẫn giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Khuyến khích đầu tư áp dụng công nghệ mới và hiện đại vào sản xuất kinh doanh.
Ba là, phải tạo ra sự cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế thông qua các giải pháp kích cầu với bảo đảm sự ổn định kinh tế vĩ mô. Theo dõi sát diễn biến giá cả thị trường thế giới và trong nước, nhất là diễn biến giá cả các mặt hàng quan trọng ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống dân cư (dầu thô, xăng dầu, sắt thép...) để có chính sách phù hợp. Thực hiện điều hành chính sách tiền tệ một cách chủ động, linh hoạt và thận trọng trên cơ sở các dự báo tốt về diễn biến kinh tế vĩ mô, diễn biến tiền tệ, tín dụng nhằm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng và tổng phương tiện thanh toán, phòng ngừa lạm phát cao trở lại.
Bốn là, trong bối cảnh tăng trưởng chưa bền vững của kinh tế thế giới, cùng với việc tiếp tục thực hiện chính sách tăng trưởng hướng tới xuất khẩu, trong thời gian tới Chính phủ cần chú trọng chính sách khuyến khích tiêu dùng hàng hoá sản xuất trong nước; lấy thị trường nội địa làm điểm tựa để phát triển. Phấn đấu nâng chất lượng hàng Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế; giữ thương hiệu và uy tín một số hàng hóa chủ lực, sắp xếp lại cơ cấu hàng hóa nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu. Xây dựng chiến lược sản xuất nguyên phụ liệu để làm hàng xuất khẩu và cung ứng cho thị trường nội địa.
Năm là, tăng cường công tác tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ đến các vùng sâu, vùng xa; triển khai công tác an sinh xã hội cùng với kiểm tra, giám sát chặt chẽ để người dân có điều kiện tiếp cận đầy đủ và kịp thời hơn với những vấn đề liên quan trực tiếp tới sản xuất và đời sống.
Sáu là, đối với khu vực nông thôn phải tập trung nghiên cứu, đề ra các chính sách và giải pháp về dạy nghề cùng với với hỗ trợ tín dụng, giống cây, con, phương tiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm để khuyến khích các hộ gia đình phát triển sản xuất, tạo thu nhập và có cuộc sống ổn định.
Bảy là, tiếp tục kiểm tra, giám sát chặt chẽ các doanh nghiệp thuộc đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ lãi suất của Chính phủ nhằm bảo đảm nguồn vốn hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Đánh giá đầy đủ và toàn bộ những mặt được và chưa được trong việc triển khai thực hiện các chính sách, làm cơ sở cho việc ban hành mới hoặc điều chỉnh chính sách, giải pháp phù hợp nhằm tiếp tục kích thích sản xuất và hạn chế những vấn đề tiêu cực nảy sinh.
Nguồn: TỔNG CỤC THỐNG KÊ
Bài đã đưa:
Tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2009
Tình hình kinh tế-xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2009
Tình hình kinh tế -xã hội tháng 4 và bốn tháng đầu năm 2009
Chỉ số giá tiêu dùng, Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ cả nước tháng 4 năm 2009
Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đôla Mỹ cả nước Tháng 02 năm 2009
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2009 và chỉ số giá
