Theo báo cáo của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,23% so với tháng trước do giá xăng dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và vận chuyển gia tăng. So với tháng 12/2025, CPI tháng 3/2026 tăng 2,44% và tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước, đây là mức tăng CPI cao nhất của tháng Ba so với cùng kỳ năm trước trong 5 năm qua.
Tính chung quý I/2026, CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 3,63%.
Trong mức tăng 1,23% của CPI tháng 3/2026 so với tháng trước, có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
9 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng
Nhóm giao thông tăng 12,85% (tác động làm CPI chung tăng 1,28 điểm phần trăm), chủ yếu do giá xăng dầu tăng mạnh: Chỉ số giá xăng tăng 29,72%; chỉ số giá dầu diezen tăng 57,03% do giá xăng dầu thế giới tăng cao trong bối cảnh xung đột vũ trang tại Trung Đông làm gián đoạn nguồn cung toàn cầu. Theo đó, chi phí vận tải tăng, làm giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 6,53%. Trong đó, giá vận tải hành khách bằng đường hàng không tăng 23,19%; đường sắt tăng 13,92%; đường thủy tăng 6,51%; xe buýt tăng 4,32%; đường bộ tăng 2,38%; tắc xi tăng 1,77%; dịch vụ giao nhận hành lý và hành lý ký gửi tăng 1,43%. Chỉ số giá nhóm bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,72%, trong đó giá dịch vụ sửa chữa xe máy tăng 0,71%; dịch vụ sửa chữa xe đạp tăng 0,81%. Chỉ số giá nhóm phụ tùng tăng 0,65% do chịu tác động từ giá nguyên liệu sản xuất và chi phí nhập khẩu tăng, trong đó lốp, săm xe máy tăng 0,71%; phụ tùng khác của xe máy tăng 0,63%; phụ tùng ô tô tăng 0,55%.
Ở chiều ngược lại, giá dịch vụ rửa xe, bơm xe giảm 0,96%; dịch vụ trông giữ xe giảm 0,85%; giá xe ô tô mới giảm 0,38%; xe ô tô đã qua sử dụng giảm 0,19% do nhu cầu giảm sau Tết.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,77% (tác động làm tăng CPI chung 0,17 điểm phần trăm), chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng sau: Giá dầu hỏa tăng 62,35%, giá gas tăng 5,56%; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,58%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 1,20%; giá thuê nhà tăng 0,94%; giá dịch vụ vệ sinh môi trường tăng 0,32%; dịch vụ về điện sinh hoạt tăng 0,24%; dịch vụ về nước sinh hoạt tăng 0,13%. Ở chiều ngược lại, giá điện sinh hoạt giảm 0,39%, nước sinh hoạt giảm 0,15% do sản lượng tiêu thụ giảm.
Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,38% (làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm). Trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ y tế tăng 0,33% do một số địa phương triển khai áp dụng giá dịch vụ y tế mới theo Nghị quyết số 335/NQ-CP ngày 17/10/2025 của Chính phủ về việc tính chi phí quản lý vào giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm thuốc các loại tăng 0,49% so với tháng trước, chủ yếu do chi phí nhập khẩu nguyên liệu dược và chi phí sản xuất, phân phối tăng. Cụ thể, giá nhóm thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 0,72%; thuốc chống dị ứng tăng 0,68%; hoóc - môn và thuốc tác động vào hệ nội tiết tăng 0,47%; thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng tăng 0,40%; thuốc tim mạch tăng 0,39%.
Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,37% do tỷ giá đô la Mỹ tăng và chi phí nguyên liệu đầu vào tăng. Trong đó, giá nước quả ép tăng 1,15%; thuốc lá tăng 0,88%; nước tăng lực đóng chai, lon, hộp tăng 0,82%; ngược lại giá rượu bia giảm 0,03%.
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%. Một số mặt hàng có giá tăng: Hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,61%; sửa chữa thiết bị gia đình tăng 0,55%; máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,45%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,43%; quạt điện tăng 0,37%; tủ lạnh tăng 0,25%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,13%. Ở chiều ngược lại, giá thuê người phục vụ giảm 1,23%; nồi điện giảm 0,77%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ giảm 0,76%.
Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,18%. Trong đó, giá máy vi tính và phụ kiện tăng 0,72%; thiết bị âm thanh tăng 0,54%; sửa chữa điện thoại tăng 0,42%; dịch vụ truyền hình và internet tăng 0,36%. Ở chiều ngược lại, giá máy điện thoại di động thông thường giảm 0,73%; ti vi màu giảm 0,10%; máy điện thoại cố định giảm 0,06%.
Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,13%, chủ yếu tăng giá ở một số mặt hàng: Nhóm đồ trang sức tăng 3,33% theo giá vàng trong nước; sửa chữa đồng hồ đeo tay, đồ trang sức tăng 1,15%; đồ dùng cá nhân tăng 0,73%; hiếu hỉ tăng 0,43%. Ở chiều ngược lại, dịch vụ phục vụ cá nhân giảm 0,40%; bảo hiểm y tế giảm 0,34% do Phú Thọ triển khai hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho một số đối tượng trên địa bàn tỉnh.
Nhóm giáo dục tháng 3/2026 tăng 0,10%, trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,09% chủ yếu do một số trung tâm gia sư, dạy thêm, học nghề và một số trường tư thục điều chỉnh học phí. Bên cạnh đó, bút viết các loại tăng 0,30%; sản phẩm từ giấy tăng 0,29%; văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,15%.
Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,01%. Trong đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ giày dép tăng 0,89%; dịch vụ may mặc tăng 0,52%; may mặc khác tăng 0,45%; mũ nón tăng 0,34% do chi phí đầu vào tăng. Ở chiều ngược lại, chỉ số giá quần áo may sẵn và giày dép cùng giảm 0,04% do nhu cầu giảm.
2 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm
Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,05% chủ yếu giảm ở những mặt hàng sau: Giá nhóm cây, hoa cảnh giảm 3,01% do nhu cầu giảm sau Tết; máy ảnh, máy quay video giảm 0,23%; thiết bị thể dục thể thao giảm 0,15%; khách sạn, nhà khách giảm 0,13%. Ngược lại, giá nhóm du lịch trọn gói tăng 0,81% (du lịch ngoài nước tăng 1,36%; du lịch trong nước tăng 0,72%); chụp, in tráng ảnh tăng 0,93%; đồ chơi trẻ em tăng 0,90%; dịch vụ liên quan đến vật nuôi tăng 0,65%.
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,59% (tác động làm CPI chung giảm 0,21 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực giảm 0,06%; thực phẩm giảm 1,41% (tác động giảm 0,31 điểm phần trăm); ngược lại, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 1,17% (tác động tăng 0,11 điểm phần trăm).
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I/2026 tăng 3,51% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,69%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,55%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,68%; giáo dục tăng 3,21%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,80%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,13%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,83%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,63%; giao thông tăng 1,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,89%; thông tin và truyền thông giảm 0,20%.
Theo Cục Thống kê, CPI quý I/2026 tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
(i) Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng bình quân quý I/2026 tăng 5,69% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 1,29 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 12,26% do giá vật liệu xây dựng và nhu cầu xây dựng, sửa chữa nhà ở tăng; giá nhà ở thuê tăng 6,55% do chi phí duy trì và vận hành tăng; giá điện sinh hoạt tăng 5,55% do nhu cầu sử dụng điện tăng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân từ ngày 10/5/2025.
(ii) Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,55%, tác động làm CPI chung tăng 1,63 điểm phần trăm. Trong đó, chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 7,14% tác động làm CPI chung tăng 0,3 điểm phần trăm, chủ yếu do nguồn cung hạn chế trong dịp lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao; chỉ số giá ăn uống ngoài gia đình tăng 5,4% do chi phí nguyên liệu và dịch vụ tăng; chỉ số giá thịt gia cầm tăng 4,56%.
(iii) Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 3,21%, làm CPI chung tăng 0,19 điểm phần trăm do một số trường dân lập, tư thục, dạy nghề đã điều chỉnh học phí trong năm học 2025-2026.
(iv) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,80%, làm CPI chung tăng 0,05 điểm phần trăm.
(v) Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,13%, làm CPI chung tăng 0,11 điểm phần trăm.
(vi) Chỉ số giá nhóm văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,83%, nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,63%, cùng tác động làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm.
(vii) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,07%, làm CPI chung tăng 0,11 điểm phần trăm, trong đó giá nhiên liệu tăng 0,23% chủ yếu do giá xăng dầu tăng mạnh trong tháng 3/2026 (Chỉ số giá nhóm nhiên liệu tháng 3 tăng 21,6% so với cùng kỳ năm trước), đảo chiều xu hướng giảm của hai tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh đó, yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI quý I/2026 là: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông quý I/2026 giảm 0,20% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá một số thiết bị công nghệ giảm nhờ nguồn cung dồi dào và cạnh tranh giữa các nhà phân phối gia tăng.
Lạm phát cơ bản tháng 3/2026 tăng 0,47% so với tháng trước và tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý I/2026, lạm phát cơ bản tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 3,51% của CPI bình quân chung, chủ yếu do giá lương thực là yếu tố tác động giảm CPI chung nhưng được loại trừ trong danh mục tính lạm phát cơ bản.
Giá vàng trong nước biến động ngược chiều với giá vàng thế giới
Tính đến ngày 28/3/2026, bình quân giá vàng thế giới ở mức 4.909,01 USD/ounce, giảm 2,27% so với tháng 02/2026. Trong tháng 3/2026, giá vàng thế giới giảm mạnh sau giai đoạn tăng cao trước đó do tác động kết hợp của các yếu tố kinh tế và tâm lý thị trường trong bối cảnh địa chính trị phức tạp. Hoạt động chốt lời và rút vốn của nhà đầu tư gia tăng sau đợt tăng giá cuối tháng 02/2026 làm tăng áp lực bán trên thị trường vàng. Cùng với đó, đồng đô la Mỹ tăng giá và kỳ vọng lãi suất duy trì ở mức cao làm giảm sức hấp dẫn của vàng.
Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,54% so với tháng trước, chủ yếu do giá vàng được các doanh nghiệp kinh doanh điều chỉnh tăng trong bối cảnh cung cầu thị trường trong nước và yếu tố tâm lý nhà đầu tư mặc dù giá vàng thế giới giảm. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá vàng tăng 82,77%; so với tháng 12/2025 tăng 18,81%; bình quân quý I/2026, chỉ số giá vàng tăng 82,70%.
Giá đô la Mỹ trong nước biến động cùng chiều với giá thế giới
Tính đến ngày 28/3/2026, chỉ số giá USD trên thị trường quốc tế đạt mức 99,29 điểm, tăng 2,03% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do xung đột vũ trang tại Trung Đông làm gia tăng nhu cầu nắm giữ USD như tài sản an toàn. Bên cạnh đó, giá vàng giảm cũng góp phần thúc đẩy dòng vốn chuyển sang đồng USD. Việc Cục Dự trữ liên bang (FED) duy trì lãi suất điều hành ở mức 3,5%-3,75% trong cuộc họp ngày 18/3/2026 cũng góp phần hỗ trợ đồng USD tăng giá.
Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 26.315 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2026 tăng 0,72% so với tháng trước; tăng 2,25% so với cùng kỳ năm trước; giảm 0,47% so với tháng 12/2025; bình quân quý I/2026, chỉ số giá đô la Mỹ tăng 2,58%.
