Công nghệ ngày càng quyết định trực tiếp đến năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản xuất công nghiệp. Với ngành Công Thương, yêu cầu này gắn với những bài toán lớn như bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực chế tạo, tăng tỷ lệ nội địa hóa, hiện đại hóa thương mại và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Tại Tọa đàm “Tự chủ công nghệ của ngành Công Thương: Bài toán lớn và sản phẩm công nghệ chiến lược” do Tạp chí Công Thương tổ chức ngày 30/9/2026, các chuyên gia, nhà quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đã tập trung trao đổi về những công nghệ cần ưu tiên, điểm nghẽn trong quá trình đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất và điều kiện để hình thành các sản phẩm công nghệ chiến lược.
Xác định đúng công nghệ cần làm chủ
Nghị quyết 57-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí động lực quan trọng của phát triển. Trong bối cảnh đó, tự chủ công nghệ không chỉ là giảm phụ thuộc vào bên ngoài, mà là tạo được năng lực thiết kế, tích hợp, vận hành, cải tiến và phát triển những công nghệ có ý nghĩa đối với ngành.
Theo ông Hoàng Ninh - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số (Bộ Công Thương) tự chủ công nghệ không đồng nghĩa với việc phải tự làm tất cả công nghệ. Trọng tâm là làm chủ những công nghệ, khâu công nghệ và sản phẩm có ảnh hưởng đến an ninh kinh tế, năng lực cạnh tranh và sự phát triển lâu dài của ngành Công Thương.
Theo Quyết định số 808/QĐ-TTg năm 2026, Bộ Công Thương chủ trì 3 bài toán lớn gồm: bảo đảm an ninh năng lượng; tự chủ về công nghiệp, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa; và hiện đại hóa thương mại thông qua dữ liệu logistics thông minh, chuỗi cung ứng tin cậy.
Từ những bài toán đó, các nhóm công nghệ cần làm chủ cũng được xác định tương ứng. Trong lĩnh vực năng lượng là thiết bị điện, thiết bị lưu trữ năng lượng; trong sản xuất công nghiệp là robot, tự động hóa, sản xuất thông minh; còn trong thương mại là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, truy xuất nguồn gốc và logistics thông minh. Quan trọng hơn, ngành Công Thương cần chuyển từ việc chỉ ứng dụng công nghệ sang từng bước làm chủ năng lực công nghệ và tạo ra các sản phẩm có giá trị, có khả năng cạnh tranh.
Thực tiễn từ lĩnh vực cơ khí chế tạo cho thấy năng lực trong nước đã từng bước được nâng lên. TS. Vũ Văn Khoa - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Cơ khí cho biết, có thể nhìn nhận năng lực công nghệ của Việt Nam qua 3 tầng.
Ở tầng thứ nhất, là những công nghệ đã làm chủ được thiết kế, chế tạo và cung cấp, điển hình trong lĩnh vực cơ khí thủy điện và các chương trình nhà máy xi măng. Viện đã tham gia hơn 29 công trình thủy điện có công suất trên 100 MW, trong đó có các dự án Sơn La và Lai Châu, góp phần tăng tỷ lệ nội địa hóa.
Tầng thứ hai, là những sản phẩm, công nghệ có thể thực hiện theo hình thức tổng thầu EPC, EPCM trong một số lĩnh vực năng lượng, dầu khí.
Tầng thứ ba, là những công nghệ, sản phẩm mới đang hướng tới, như robot công nghiệp, robot tự hành, thiết bị đóng cắt cao áp, hệ thống bản sao số, sản xuất thông minh, đường sắt cao tốc và đường sắt đô thị. Đây là những lĩnh vực gắn với các bài toán có dung lượng thị trường lớn và có khả năng giải quyết nhu cầu của quốc gia.
Theo TS. Vũ Văn Khoa, lựa chọn công nghệ để làm chủ cần xuất phát từ những bài toán kinh tế - xã hội và an ninh thực tế, đồng thời cân bằng giữa mức độ sẵn sàng của công nghệ, quy mô thị trường và năng lực hiện có. Công nghệ được lựa chọn cần có thị trường nội địa đủ lớn, ưu tiên những khâu tạo giá trị gia tăng cao và phải được làm sâu, làm đến cùng.
Thu hẹp khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất
Xác định đúng công nghệ mới là bước đầu. Thách thức lớn hơn là đưa kết quả nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm để trở thành sản phẩm có khả năng sản xuất và thương mại hóa.
Ông Hoàng Ninh cho rằng cơ chế, nguồn lực, nhân lực và liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất đều là những vấn đề cần giải quyết. Tuy nhiên, điểm nghẽn mang tính nền tảng là khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến công nghệ, sản phẩm và năng lực sản xuất thực tế.
Một kết quả nghiên cứu muốn trở thành sản phẩm phải trải qua nhiều khâu, từ thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn đến đầu tư sản xuất và đưa ra thị trường. Vì vậy, theo ông Hoàng Ninh, cần tập trung vào 3 việc: đặt đúng bài toán, tập trung nguồn lực đủ mạnh và để doanh nghiệp tham gia ngay từ giai đoạn đầu xây dựng bài toán.
Từ thực tiễn nghiên cứu, TS. Vũ Văn Khoa chỉ ra hai khoảng trống khiến nhiều kết quả nghiên cứu khó đi vào sản xuất.
Thứ nhất, ý tưởng của nhà khoa học và nhu cầu của doanh nghiệp chưa phải lúc nào cũng gặp nhau.
Thứ hai, sau khi nghiên cứu hoàn thành vẫn cần thử nghiệm ở quy mô thực, hoàn thiện thiết kế và kiểm chứng theo các tiêu chuẩn kỹ thuật.
Đặc biệt trong cơ khí và năng lượng, niềm tin của người sử dụng đối với sản phẩm mới cũng là một vấn đề. Một thiết bị sau khi nghiên cứu thành công vẫn phải được thử nghiệm, chứng nhận và chứng minh độ tin cậy trước khi đưa vào hệ thống vận hành thực tế.
Một trường hợp được TS. Vũ Văn Khoa dẫn chứng là hệ thống xử lý rác thải y tế bằng phương pháp nhiệt ướt do Viện Nghiên cứu Cơ khí phối hợp với Công ty Cổ phần Vật tư Thiết bị Môi trường Urenco 13 nghiên cứu, chế tạo. Doanh nghiệp tham gia ngay trong quá trình thiết kế để sản phẩm phù hợp với điều kiện vận hành và thiết bị hiện có. Sau khi được nghiệm thu, khoảng 20 thiết bị đã được Urenco 13 đưa vào sử dụng. Theo TS. Vũ Văn Khoa, việc doanh nghiệp cùng xác định mục tiêu và yêu cầu sản phẩm là một hướng giúp kết quả nghiên cứu có khả năng đi vào thực tế cao hơn.
GS.TS. Huỳnh Trung Hiếu - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, cũng chỉ ra 3 điểm nghẽn trong quá trình chuyển hóa nghiên cứu thành công nghệ và sản phẩm: bài toán nghiên cứu chưa sát nhu cầu sản xuất; thiếu nguồn lực cho giai đoạn từ nguyên mẫu đến sản phẩm ứng dụng; và cơ chế hợp tác, sở hữu trí tuệ, chia sẻ lợi ích giữa trường và doanh nghiệp chưa đủ linh hoạt.
Theo ông, doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác định vấn đề, yêu cầu kỹ thuật và đánh giá kết quả. Doanh nghiệp cũng cần chia sẻ dữ liệu, bài toán thực tế, hạ tầng thử nghiệm và nguồn lực. Khi đó, khả năng nghiên cứu đi sâu vào sản xuất sẽ cao hơn.
Doanh nghiệp và nguồn nhân lực là mắt xích then chốt
Từ góc độ doanh nghiệp, câu chuyện làm chủ máy biến áp 500 kV - 3×300 MVA của Tổng công ty Thiết bị điện Đông Anh (EEMC) cho thấy tự chủ công nghệ là quá trình tích lũy lâu dài.
Theo ông Nguyễn Hải Quân - Phó Tổng giám đốc EEMC, khó nhất là chuyển từ mua công nghệ sang tự chủ công nghệ. Để làm chủ sản phẩm ở cấp điện áp 500 kV, doanh nghiệp phải đồng thời làm chủ thiết kế, mô phỏng và kiểm định thiết kế, công nghệ chế tạo cũng như thử nghiệm, kiểm định sản phẩm.
Từ các dòng máy biến áp 110 kV, 220 kV đến sản phẩm 500 kV, EEMC từng bước tích lũy năng lực thiết kế, công nghệ chế tạo, thử nghiệm và quản lý chất lượng. Doanh nghiệp phải kiểm soát đồng bộ từ vật tư, gia công mạch từ, bối dây, hệ thống cách điện, lắp ráp đến các công đoạn công nghệ then chốt.
Theo ông Nguyễn Hải Quân, tài sản quan trọng mà doanh nghiệp tích lũy không chỉ là thiết bị mà còn là tri thức thiết kế, kinh nghiệm công nghệ, dữ liệu kiểm chứng và đội ngũ có khả năng làm chủ toàn bộ quá trình tạo ra sản phẩm.
Từ nền tảng đó, EEMC đã đưa sản phẩm máy biến áp 132 kV - 70 MVA sang thị trường Australia. Tuy nhiên, để cạnh tranh ở thị trường quốc tế, doanh nghiệp phải tiến từ làm chủ một sản phẩm sang làm chủ hệ thống công nghệ, nâng cao năng lực thiết kế, sản xuất, kiểm soát chất lượng, thử nghiệm, chứng nhận và cung cấp dịch vụ trong toàn bộ vòng đời sản phẩm.
Cùng với doanh nghiệp, nguồn nhân lực là một điều kiện nền tảng của tự chủ công nghệ.
GS.TS. Huỳnh Trung Hiếu cho rằng nhân lực chất lượng cao của ngành Công Thương hiện không chỉ cần năng lực chuyên môn kỹ thuật mà còn phải có năng lực số, khả năng làm việc với dữ liệu, AI, tự động hóa, mô phỏng và các nền tảng số.
Khi sản xuất chuyển mạnh sang tự động hóa, số hóa và sản xuất thông minh, doanh nghiệp không chỉ cần người vận hành thiết bị mà cần đội ngũ có khả năng hiểu, tích hợp và giải quyết các bài toán thực tế. Vì vậy, giáo dục đại học cần tăng tính liên ngành, thời lượng thực hành, đưa robot, tự động hóa, IoT công nghiệp, hệ thống điều khiển và AI vào đào tạo, đồng thời để sinh viên tham gia giải quyết những bài toán thực tế của doanh nghiệp.
Từ bài toán thực tế đến sản phẩm công nghệ chiến lược
Để thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và sản xuất, các diễn giả cùng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng mối liên kết thực chất giữa Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Theo ông Hoàng Ninh - Phó Cục trưởng Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số, doanh nghiệp phải tham gia ngay từ đầu trong quá trình thiết kế, xây dựng, kiểm thử và hoàn thiện sản phẩm. Trong chuỗi này, doanh nghiệp đặt ra bài toán; viện, trường xây dựng giải pháp; Nhà nước tạo cơ chế hỗ trợ; doanh nghiệp tiếp nhận, hoàn thiện và thương mại hóa. Khi chuỗi liên kết được vận hành thực chất, nhu cầu sản xuất mới trở thành đầu vào trực tiếp của hoạt động nghiên cứu.
Một yêu cầu quan trọng khác là phải có cơ chế rõ ràng về sở hữu trí tuệ, quyền khai thác, trách nhiệm đầu tư và phân chia lợi ích giữa các bên. Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả các tổ chức chuyển giao công nghệ và tạo điều kiện hình thành doanh nghiệp spin-off từ các cơ sở nghiên cứu, đào tạo.
Với doanh nghiệp, ông Nguyễn Hải Quân cho rằng, cơ chế cần thiết là đặt hàng xuất phát từ nhu cầu thực tế của ngành, có lộ trình rõ từ nghiên cứu, thử nghiệm đến ứng dụng và thương mại hóa. Cùng với đó là cơ chế chia sẻ rủi ro hợp lý giữa Nhà nước, đơn vị sử dụng và đơn vị nghiên cứu - chế tạo, trên cơ sở tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình thử nghiệm và đánh giá minh bạch. Khi đầu ra và lộ trình thương mại hóa được xác định rõ, doanh nghiệp sẽ có cơ sở mạnh dạn đầu tư cho công nghệ.
Trong điều kiện nguồn lực có hạn, việc lựa chọn và tập trung nguồn lực càng trở nên quan trọng. Theo ông Hoàng Ninh, công nghệ được lựa chọn phải bám sát các bài toán lớn của ngành, có khả năng tạo tác động lan tỏa, giảm phụ thuộc bên ngoài, nâng tỷ lệ nội địa hóa và tạo ra sản phẩm có thị trường. Nguồn lực cần được tập trung đủ mạnh để hình thành năng lực làm chủ công nghệ thực sự và tạo ra những kết quả có thể đo đếm.
Từ góc nhìn của TS. Vũ Văn Khoa, sản phẩm công nghệ chiến lược phải được kiểm chứng ở quy mô công nghiệp, có độ tin cậy và giá thành phù hợp, gắn với thị trường đủ lớn, đồng thời làm chủ được thiết kế, công nghệ lõi và những khâu tạo giá trị gia tăng cao. Doanh nghiệp cũng phải đủ năng lực sản xuất, kiểm thử, bảo đảm chất lượng và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm.
Như vậy, tự chủ công nghệ của ngành Công Thương không được đo bằng số lượng đề tài hay số công nghệ được nghiên cứu, mà phải được nhìn nhận qua khả năng biến những bài toán thực tế thành công nghệ, sản phẩm và giá trị kinh tế.
Theo ông Hoàng Ninh, làm chủ công nghệ là điều kiện, tạo ra sản phẩm là kết quả trực tiếp, còn nâng cao năng lực cạnh tranh là mục tiêu cuối cùng. Tự chủ công nghệ vì vậy phải được đo bằng khả năng tạo ra sản phẩm, giá trị mới và năng lực cạnh tranh mới cho ngành.
Từ bài toán lớn của ngành đến một sản phẩm cụ thể là cả một chuỗi liên kết: Nhà nước định hướng và tạo cơ chế; viện nghiên cứu, trường đại học tạo tri thức, công nghệ và nhân lực; doanh nghiệp đặt ra nhu cầu, đưa công nghệ vào sản xuất và tiếp tục đầu tư để nâng cấp. Đây là nền tảng để những định hướng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước được cụ thể hóa thành năng lực công nghệ, sản phẩm và giá trị thực tế của ngành Công Thương.
