Tóm tắt: Lợi dụng tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các thế lực thù địch liên tục tung ra luận điệu xuyên tạc cho rằng nền kinh tế nước ta "lệ thuộc gia công", không thể tự chủ công nghệ. Vận dụng phép biện chứng duy vật, bài viết khẳng định giai đoạn phát triển thâm dụng lao động là bước tích lũy khách quan, tất yếu về tư bản, kỹ năng và năng lực quản trị để chuyển lên phân khúc cao hơn trong chuỗi giá trị. Thực tiễn tỉnh Nghệ An, qua quy hoạch cụm công nghiệp, thu hút FDI có chọn lọc và chính sách khuyến công, phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu đã bác bỏ các luận điệu xuyên tạc trên, khẳng định lộ trình kiến tạo nền công nghiệp tự chủ đang định hình vững chắc ở địa phương.
Từ khóa: lệ thuộc gia công; tự chủ công nghiệp; công nghệ chiến lược; kỷ nguyên vươn mình; thực tiễn địa phương.
Mở đầu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam xác lập tầm nhìn chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc[1]. Để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược đó, Văn kiện Đại hội XIV đặt ra yêu cầu chuyển mạnh mô hình tăng trưởng sang chiều sâu, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lực nội sinh làm động lực cốt lõi. Trong tiến trình này, kiến tạo nền công nghiệp tự chủ, chủ động đón đầu công nghệ chiến lược là nhiệm vụ chính trị tất yếu, đòi hỏi hành động đồng bộ từ hoạch định vĩ mô ở Trung ương đến tổ chức thực hiện sinh động tại địa phương.
Lợi dụng tiến trình chuyển dịch này, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội rêu rao luận điệu rằng: công nghiệp Việt Nam “lệ thuộc gia công”, “mắc kẹt” ở đáy chuỗi giá trị. Bản chất đây không phải là phản biện kinh tế khách quan, mà là mưu đồ chính trị thâm độc. Chúng tuyệt đối hóa đặc điểm mang tính quy luật của giai đoạn tích lũy ban đầu (trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta) để quy chụp thành “khuyết tật thể chế”; hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, phản bác luận điệu “lệ thuộc gia công” chính là mệnh lệnh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và định hướng độc lập, tự chủ của nền kinh tế quốc gia.
Thực hiện phương châm lý luận gắn liền với thực tiễn, vận dụng phép biện chứng duy vật, bài viết bóc trần tính phiến diện của các quan điểm sai trái trên; đồng thời đối chiếu trực tiếp với thực tiễn tại tỉnh Nghệ An để củng cố các luận điểm, luận cứ vững chắc cho đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc của các phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch. Thông qua đổi mới cơ chế khuyến công, nâng tầm sản phẩm địa phương, quy hoạch cụm công nghiệp và sàng lọc khắt khe FDI, Nghệ An đang bứt phá tích lũy năng lực nội sinh. Thực tiễn thuyết phục này là lời bác bỏ đanh thép đối với các luận điệu xuyên tạc, khẳng định lộ trình đi lên nền công nghiệp tự chủ của Việt Nam đang được kiến tạo vững chắc từ gốc rễ cơ sở.
1. Nhận diện luận điệu xuyên tạc nền công nghiệp Việt Nam “lệ thuộc gia công” và bản chất dưới lăng kính quy luật lượng - chất
Trong những năm gần đây, mỗi khi nền kinh tế Việt Nam bước vào các nhịp điều chỉnh cơ cấu tất yếu, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị lại “chớp thời cơ” để tung ra các luận điệu xuyên tạc. Triệt để lợi dụng hiện tượng cắt giảm lao động cục bộ tại một số nhà máy FDI thuộc ngành dệt may, da giày, chúng rêu rao rằng “mô hình tăng trưởng gia công của Việt Nam đang sụp đổ”, từ đó quy chụp một cách vô căn cứ rằng Đảng và Nhà nước ta đang đưa đất nước vào thế “làm thuê vĩnh viễn không có lối thoát”.
Mưu đồ bôi nhọ này không phải là các tiếng nói đơn lẻ. Đó là một chiến dịch tinh vi giữa các nhóm chủ thể, không khó để nhận diện ra, như: Nhóm các tổ chức phản động lưu vong khi hiện hữu công khai, khi ngấm ngầm núp bóng. Các đài phát thanh thiếu thiện chí (RFA, RFI, VOA tiếng Việt), các tổ chức phản động (Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời,…) lập ra cái gọi là “Diễn đàn kinh tế” nhưng thực chất là lồng ghép thông tin độc hại để hạ thấp uy tín của Việt Nam. Đó còn là những phần tử cơ hội chính trị và "học giả" tự phong: Một số cựu cán bộ suy thoái về tư tưởng chính trị, các "chuyên gia kinh tế" tự phong trên mạng xã hội (Facebook, YouTube, TikTok). Chúng núp bóng dưới danh nghĩa "phản biện khoa học", “vì dân” để đưa ra các phân tích hàn lâm giả hiệu nhằm “lập lờ đánh lận con đen”, đánh lừa tầng lớp trí thức và giới trẻ. Đó còn là hội, nhóm tài khoản ẩn danh trên không gian mạng, quy tụ những phần tử bất mãn, kích động công nhân tại các khu công nghiệp biểu tình, đình công khi có biến động kinh tế,…
Luận điệu của chúng vô cùng xảo quyệt. Lợi dụng việc các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vẫn nằm ở nhóm dệt may, da giày, lắp ráp điện tử, chúng rêu rao: “Việt Nam ký kết hiệp định thương mại tự do (FTA) nhưng thực chất mở cửa để bán rẻ tài nguyên và sức lao động”. Không khó để có thể nhận ra bản chất sai trái. Chúng phủ nhận việc tỷ lệ nội địa hóa và hàm lượng chất xám trong sản phẩm Việt đang tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm. Đáng chú ý, khi chứng kiến khối FDI đóng góp tỷ trọng lớn vào kim ngạch xuất khẩu, chúng bóp méo rằng: “Kinh tế nội địa Việt Nam đã bị teo tóp, Nhà nước bất lực và nền kinh tế đang bị thao túng bởi các tập đoàn đa quốc gia”. Chúng kích động, gọi dòng vốn nước ngoài là một hình thức "thực dân mới". Luận điệu này cố tình phủ nhận vai trò điều tiết, định hướng và quản trị không gian lãnh thổ của Nhà nước (như thực tiễn sàng lọc và điều phối không gian công nghiệp tại Nghệ An). Chúng tách rời mối quan hệ cộng hưởng giữa khối FDI và khối tư nhân nội địa nhằm kích động tâm lý bài xích đầu tư, phá hoại môi trường kinh doanh quốc gia.
Đặc biệt, khi các doanh nghiệp nội địa vấp phải khó khăn trong nghiên cứu công nghệ lõi, chúng tuyên truyền:“Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nguyên nhân kìm hãm tư duy sáng tạo, khiến Việt Nam không thể có các tập đoàn công nghệ toàn cầu”. Chúng mang các mô hình phương Tây ra làm thước đo tuyệt đối, đòi hỏi Việt Nam phải "đổi mới thể chế chính trị" thì mới phát triển được công nghiệp cao. Bản chất sai trái của những luận điệu này đã chuyển hóa từ một vấn đề kinh tế thuần túy thành đòn tấn công trực diện vào vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Xét dưới góc độ thực tiễn, sự dịch chuyển dòng lao động tại các phân xưởng thâm dụng nhân công không phải là dấu hiệu thoái trào thể chế mà là bước thanh lọc tất yếu dưới áp lực của làn sóng tự động hóa và xu hướng chuyển đổi xanh toàn cầu [2]. Việc các doanh nghiệp FDI tái cơ cấu dây chuyền, thay thế lao động thủ công để đáp ứng các bộ tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt là xu thế chung của thời đại, hiện diễn ra mạnh mẽ tại các quốc gia đang phát triển như Bangladesh hay Indonesia. Hành vi đánh tráo một quy luật vận động khách quan thành “sự yếu kém trong điều hành thể chế” đã phơi bày một tư duy phi lịch sử.
Nhìn từ góc độ phương pháp luận, quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất của triết học Mác - Lênin chính là chiếc kính hiển vi khoa học bóc trần sự ngụy biện của các thế lực thù địch [3]. Giai đoạn sản xuất gia công thâm dụng lao động thực chất là một quá trình tích lũy khách quan về lượng - tích lũy về nguồn vốn, kỷ luật lao động công nghiệp và kỹ năng quản trị tiên tiến. Sự tích lũy bền bỉ này chính là việc chuẩn bị các tiền đề vật chất bắt buộc để nền kinh tế tạo dựng bước nhảy vọt về chất: vươn lên làm chủ công nghệ đại công nghiệp.
Quá trình công nghiệp hóa tại châu Á chính là minh chứng thực tiễn sinh động nhất. Vào thập niên 1960 - 1970, Hàn Quốc bắt đầu từ các xưởng gia công dệt may và lắp ráp điện tử sơ cấp cho các tập đoàn Mỹ, Nhật Bản. Nhưng họ đã biến chính môi trường gia công ấy thành trường học lớn để tích lũy tư bản và đào tạo thế hệ kỹ sư đầu tiên [4]. Hệ quả tất yếu là việc Samsung vươn lên thống lĩnh thị trường chip nhớ toàn cầu, Hyundai từ xưởng sửa chữa xe hơi nay có thể cạnh tranh sòng phẳng với các tập đoàn phương Tây. Ở tầm vĩ mô hơn, Trung Quốc từ vị thế “công xưởng thế giới” thâm dụng lao động giá rẻ đã chuyển hóa tri thức hấp thụ được thành năng lực công nghệ nội sinh mạnh mẽ. Sự trỗi dậy của Huawei trong hạ tầng 5G, hay bước đột phá chấn động của DeepSeek trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo bất chấp các lệnh cấm vận là câu trả lời đanh thép nhất[5]. Quá trình gia công vì thế luôn đóng vai trò là một bước đệm lịch sử bắt buộc để tiến tới làm chủ công nghệ lõi.
Dưới góc độ kinh tế học hiện đại, Mô hình “Đường cong nụ cười” (Smiling Curve) do Stan Shih, người sáng lập Tập đoàn Acer đề xuất đã hệ thống hóa quy luật dịch chuyển này[6]. Giá trị gia tăng cao luôn nằm ở hai đầu chuỗi sản xuất (nghiên cứu phát triển và thương hiệu), trong khi phần đáy (gia công lắp ráp) giữ mức sinh lời thấp nhất. Ngân hàng Thế giới (World Bank) từng cảnh báo: nếu một quốc gia chỉ thụ động dừng ở đáy đường cong, họ sẽ vấp phải giới hạn tăng trưởng [7]. Tuy nhiên, logic cốt lõi của mô hình cũng chỉ rõ: không một quốc gia đi sau nào có thể cất cánh mà không khởi đầu từ đáy đường cong để thiết lập nền tảng kỹ thuật cơ bản. Việt Nam đang bám sát quỹ đạo này khi liên tục gia tăng tỷ lệ nội địa hóa và hàm lượng chất xám trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Hình 1. Sơ đồ mô hình “Đường cong nụ cười” (Stan Shih) và lộ trình tự chủ của nền công nghiệp Việt Nam.
Nguồn: Tác giả tự khái quát hóa dựa trên mô hình của Stan Shih.
Tinh thần chủ động tạo bước nhảy về chất ấy đã được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị[8] và định hướng chiến lược tại Văn kiện Đại hội XIV của Đảng về mục tiêu làm chủ công nghệ chiến lược. Tư duy này đã nhanh chóng được thể chế hóa bằng Danh mục và sản phẩm công nghệ chiến lược do Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg[9], tập trung vào các lĩnh vực mũi nhọn: chip bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lượng xanh và các ngành công nghệ nền tảng thế hệ mới. Bước chuyển mình mang tính chiến lược này kế thừa trọn vẹn những thành quả tích lũy để vươn lên một nấc thang phát triển mới.
Sự chuyển hóa tất yếu ấy không còn dừng lại ở định hướng lý thuyết, mà đang diễn ra một cách mạnh mẽ, trực quan ngay trong lòng nền kinh tế Việt Nam. Các doanh nghiệp công nghệ cốt lõi trong nước đã bước qua giai đoạn “học việc”, chủ động tiến thẳng vào các “pháo đài” công nghệ cao nhất của nhân loại như mạng 5G, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo (AI).
Minh chứng là việc Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đã nghiên cứu, thiết kế và chế tạo thành công hệ sinh thái mạng 5G do người Việt Nam làm chủ 100%, được tổ chức quốc tế Gartner vinh danh vững chắc ở vị thế tiên phong toàn cầu về thương mại hóa trạm gốc 5G Open RAN[10]. Sự kiện ngày 16/01/2026 khi Viettel chính thức khởi công nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên của Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử. Đây không đơn thuần là một công trình kinh tế. Đây là việc xác lập hạ tầng chiến lược quốc gia khép kín, từ nghiên cứu, thiết kế, thử nghiệm cho đến sản xuất những “bộ não” của kỷ nguyên số[11].
Bên cạnh đó, việc các "gã khổng lồ" công nghệ toàn cầu như NVIDIA và Qualcomm chủ động ký kết hợp tác chiến lược, chọn Việt Nam làm cứ điểm thiết lập các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) trí tuệ nhân tạo, cùng hệ thống trung tâm dữ liệu (Data Center) quy mô siêu lớn[12] đã phản ánh một tư duy rất khác từ thị trường quốc tế. Đó không còn là cái nhìn dành cho Việt Nam như một "công xưởng gia công" thô sơ, mà là sự thừa nhận đối với một trung tâm công nghệ mới đang trỗi dậy của khu vực.
Chuỗi chuyển biến mang tính lịch sử này là minh chứng sống động rằng: sau một thời gian dài kiên trì tích lũy về lượng, năng lực công nghiệp nội địa của Việt Nam đã đạt đến "điểm nút" để nhảy vọt về chất. Những lợi thế cạnh tranh mới dựa trên tri thức, công nghệ lõi và chất xám đang thay thế dần lợi thế nhân công giá rẻ. Thực tế này hoàn toàn thống nhất với định hướng của Đảng ta tại Văn kiện Đại hội XIV, đồng thời là gáo nước lạnh dội thẳng vào những luận điệu ngụy biện, lỗi thời cho rằng Việt Nam vĩnh viễn "mắc kẹt trong thân phận làm thuê".
2. Kiến tạo nền công nghiệp tự chủ: từ lý luận đến thực tiễn sinh động tại tỉnh Nghệ An
Tiến trình kiến tạo nền công nghiệp tự chủ không diễn ra ngẫu nhiên mà đòi hỏi hành động quyết liệt, khoa học ở địa phương, nơi chủ trương của Đảng được cụ thể hóa thành vũ khí điều hành. Bám sát đường lối chiến lược đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An đã ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 23/12/2021[13] thể hiện quyết tâm chính trị dịch chuyển cơ cấu công nghiệp theo hướng hiện đại, giảm dần tiến tới loại bỏ lĩnh vực thâm dụng lao động, khai thác tài nguyên thô. Yêu cầu đó được Ủy ban nhân dân tỉnh thể chế hóa bằng Kế hoạch số 174/KH-UBND ngày 14/3/2022[14], đưa ra một quyết sách tài chính đột phá: hàng năm trích từ 0,5% đến 1% nguồn thu ngân sách công nghiệp để trực tiếp hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Dòng “vốn mồi” này tháo gỡ căn bản rào cản tài chính cho cơ sở sản xuất nội địa, bám sát mục tiêu đưa Nghệ An thành trung tâm công nghiệp công nghệ cao của khu vực Bắc Trung Bộ theo định hướng tại Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị[15].
Sự đồng hành của Nhà nước đối với doanh nghiệp thể hiện rõ qua thực tiễn điều hành ngân sách. Nghệ An đã chọn lọc, dồn nguồn lực để thúc đẩy khối kinh tế tư nhân thực hiện bước nhảy vọt về công nghệ. Số liệu năm 2025 chỉ ra hơn 83% nguồn kinh phí khuyến công địa phương được tập trung cho 18 dự án chuyển giao công nghệ và ứng dụng máy móc, thiết bị tiên tiến vào sản xuất[16]. Thước đo sòng phẳng nhất cho quyết sách này chính là năng lực tự chủ công nghệ và sải bước toàn cầu của doanh nghiệp nội địa. Từ dòng "vốn mồi" và bệ phóng của chương trình bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, Công ty TNHH Hồ Hoàn Cầu đã tự thiết kế, chế tạo thành công hàng loạt máy móc cơ khí từ máy đúc gạch không nung đến dây chuyền thủy lực, đạt doanh thu 39,5 tỷ đồng/năm và xuất khẩu sang Đông Nam Á, Bờ Biển Ngà. Tương tự, Công ty TNHH Đức Phong với sự tiếp sức từ kinh phí khuyến công quốc gia và các chương trình xúc tiến thương mại có chiều sâu đã đưa sản phẩm mây tre đan thâm nhập thị trường châu Âu qua 3 lần tham gia Hội chợ Ambiente (Đức), xuất khẩu sang Trung Quốc, Pháp, Bỉ, Thụy Điển, mang về nguồn thu ổn định 21 tỷ đồng/năm, đào tạo nghề cho hơn 5.000 lao động tại địa phương. Những con số biết nói này[17] khẳng định ngân sách nhà nước khi được sử dụng có trọng tâm, trọng điểm sẽ phát huy vai trò dẫn dắt, thúc đẩy doanh nghiệp nội địa tự chủ nâng cấp công nghệ và lan tỏa năng lực sản xuất ra cộng đồng.
Song hành với nhiệm vụ khơi thông nội lực, công tác thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được Nghệ An thực hiện dựa trên nguyên tắc tối thượng: bảo đảm tính tự chủ chiến lược và phát triển bền vững. Quán triệt sâu sắc quan điểm chỉ đạo tại Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị[18], tỉnh đã cụ hóa thành hệ thống tiêu chí “bộ lọc” nghiêm ngặt tại Kế hoạch số 174/KH-UBND: ưu tiên các dự án ứng dụng công nghệ cao, kiên quyết loại bỏ công nghệ lỗi thời, từ chối các lĩnh vực tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường và hạn chế bố trí các dự án công nghiệp nằm ngoài hệ thống khu, cụm công nghiệp tập trung. Nguyên tắc quản trị này tương thích hoàn toàn với triết lý phát triển công nghiệp bền vững của Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO): công nghiệp hóa không tự diễn ra một cách tự phát, mà đòi hỏi những chính sách được thiết kế có chủ đích, trong đó Nhà nước phải chủ động định hướng dòng vốn đầu tư và bảo đảm các mục tiêu phát triển bền vững[19].
Vận dụng nhất quán Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ[20], cơ quan chuyên môn của tỉnh Nghệ An đã thẳng thắn từ chối chủ trương đầu tư đối với dự án Nhà máy may Sumec do thiếu minh bạch về xuất xứ dây chuyền thiết bị; đồng thời không chấp thuận mở rộng dự án Viet Glory 2 khi nhận diện rõ bản chất mô hình này chỉ tìm kiếm lợi nhuận bằng cách gia tăng cường độ lao động thô thay vì đổi mới công nghệ. Khi dũng cảm từ chối các dự án có quy mô vốn lớn, chính quyền cơ sở đã chứng minh một chân lý điều hành: Nhà nước hoàn toàn có đủ năng lực, công cụ và sự tỉnh táo để sàng lọc, quyết không để nền kinh tế địa phương trở thành “bãi đáp” của các công nghệ thứ cấp, lỗi thời. Đây chính là hành động thực tiễn quyết liệt nhất để bảo vệ quyền lợi người lao động, bảo vệ chủ quyền kinh tế quốc gia và là lời bác bỏ có sức thuyết phục đối với các luận điệu xuyên tạc rằng Việt Nam đang “thỏa hiệp” để chấp nhận thân phận gia công vĩnh viễn.
Có một định kiến lệch lạc mà các thế lực thù địch thường vin vào để công kích: địa phương phải chấp nhận mọi yêu cầu, nhượng bộ không gian để “chiều lòng” các nhà đầu tư nước ngoài. Thực tế điều hành kinh tế - xã hội tại Nghệ An đã chứng minh điều ngược lại: không gian địa lý và quy hoạch lãnh thổ hoàn toàn có thể sử dụng như một thứ “quyền lực mềm” để chủ động kiến tạo mối liên kết ngành bền vững giữa dòng vốn ngoại và nội lực địa phương. Quán triệt sâu sắc định hướng tại Kế hoạch số 611/KH-UBND[21], tỉnh Nghệ An chủ trương xây dựng các cụm công nghiệp chiến lược như Quỳnh Châu, Diễn Thắng, Quỳnh Lộc, Đô Lăng… trở thành một mạng lưới liên kết sản xuất có cấu trúc chặt chẽ. Minh chứng điển hình cho sự điều hành này là trường hợp phê duyệt dự án Nhà máy sản xuất mũ giày Phúc Thụy Đạt. Thay vì thỏa hiệp cho phép xây dựng một phân xưởng độc lập làm phân rã quy hoạch chung, chính quyền tỉnh đã định hướng đưa dự án vào cụm công nghiệp. Quyết định điều phối không gian này sâu xa chính là ngăn chặn triệt đề xu hướng hình thành các “ốc đảo kinh tế khép kín” của dòng vốn ngoại, buộc FDI phải tạo không gian chuyển giao tri thức cho doanh nghiệp phụ trợ nội địa.
Việc Nghệ An xác lập kỷ lục 3 năm liên tiếp vững vàng trong nhóm 10 địa phương thu hút dòng vốn FDI lớn nhất cả nước, song song với việc siết chặt kỷ cương quy hoạch chính là thành tựu thực chứng. Dưới sự lãnh đạo toàn diện, sáng suốt của Đảng, từ các quyết sách vĩ mô của Trung ương cho đến tư duy hành động kiên định tại các địa phương như Nghệ An, chúng ta đang biến dòng vốn toàn cầu thành bệ phóng để xác lập vị thế tự cường, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng trên mặt trận kinh tế mà Đảng và nhân dân đã lựa chọn.
3. Giải pháp đón đầu công nghệ chiến lược trong kỷ nguyên vươn mình
Thực tiễn cơ sở tại Nghệ An đã chứng minh một chân lý: chính quyền địa phương hoàn toàn có thể chủ động kiến tạo không gian phát triển tự chủ bằng tư duy quản trị hiện đại. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh bác bỏ các luận điệu xuyên tạc về bản chất không thể chỉ dừng lại ở mặt lý luận hay những khẩu hiệu suông, mà phải được cụ thể hóa bằng thể chế quốc gia đồng bộ và các quyết sách mang tính đột phá.
Một là, thay đổi tâm thế thu hút FDI: Từ "trải thảm" sang "sàng lọc".
Việc duy trì các ưu đãi thụ động đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, bối cảnh hiện nay đòi hỏi tâm thế đàm phán có điều kiện. Từ thực tiễn khước từ các dự án gia công thô tại Nghệ An, bài học rút ra là công tác sàng lọc FDI phụ thuộc vào việc thiết lập và áp dụng nhất quán hệ thống rào cản kỹ thuật minh bạch. Ở tầm quốc gia, Trung ương cần ban hành bộ tiêu chí thẩm định mới, ràng buộc tỷ lệ nội địa hóa và trách nhiệm chuyển giao tri thức ngay từ khâu phê duyệt chủ trương đầu tư, gắn với cơ chế giám sát thực thi sau cấp phép, tránh tình trạng cam kết trên giấy. Đồng bộ với đó, hệ thống Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công nghệ và môi trường phải được thiết lập nhằm chấm dứt nguy cơ Việt Nam trở thành "bãi đáp" công nghệ đào thải. Ngoài ra, dựa trên định hướng tại Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg, mọi dự án sử dụng vốn nhà nước phải xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và cam kết tỷ lệ thương mại hóa trên 70%, kiên quyết loại bỏ tình trạng đề tài nghiên cứu thiếu tính ứng dụng gây lãng phí nguồn lực.
Hai là, phá vỡ thế độc quyền, kích hoạt hệ sinh thái công nghiệp nội địa.
Báo cáo số 77-BC/VPTW của Văn phòng Trung ương Đảng chỉ rõ thực tế đáng báo động: khối FDI đang nắm giữ tới 99,4% doanh thu công nghệ chiến lược[22]. Đây là trạng thái độc quyền đe dọa trực tiếp đến an ninh kinh tế. Để phá vỡ thế độc quyền này, cần luật hóa cơ chế "Người mua đầu tiên" (First Buyer), bắt buộc dành từ 3% đến 5% ngân sách mua sắm công hàng năm dành riêng cho sản phẩm công nghệ nội địa ở giai đoạn thử nghiệm. Chính sách vốn mồi này phải vận hành đồng bộ với mô hình liên kết "3 Nhà" theo định hướng tại Thông báo kết luận số 22-TB/CQTTBCĐ của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương[23]. Nguồn vốn Nhà nước chỉ được giải ngân đối ứng khi có cam kết đầu tư từ doanh nghiệp. Ở cấp cơ sở, các chỉ tiêu hỗ trợ phải được lượng hóa bằng những con số cụ thể. Đơn cử, Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026-2030[24] đặt ra mục tiêu hỗ trợ 30 doanh nghiệp hạt nhân, thúc đẩy 10 đơn vị làm nhà cung ứng trực tiếp cho các tập đoàn lắp ráp và 10 đơn vị nhận chuyển giao công nghệ. Đây là công cụ hành chính phá vỡ cấu trúc hoạt động khép kín của dòng vốn ngoại, mở không gian sinh tồn cho chuỗi sản xuất nội địa.
Ba là, xác lập chủ quyền số và dữ liệu chuỗi cung ứng.
Mọi nỗ lực tự chủ trong sản xuất sẽ mất đi ý nghĩa nếu mất đi quyền kiểm soát dữ liệu. Khi TikTok Shop hay Shopee thâu tóm tới 97% thị phần thương mại điện tử, dữ liệu tiêu dùng bị đẩy ra ngoài tầm kiểm soát của quốc gia. Đây là một dạng lệ thuộc kiểu mới. Nhiệm vụ là cần khẩn trương ban hành chế tài buộc các nền tảng ngoại lưu trữ , chia sẻ dữ liệu giao dịch tại Việt Nam. Tại địa phương, Nghệ An tổ chức phối hợp liên ngành trên không gian số theo Công văn số 8478/UBND-KT[25]: Sở Khoa học và Công nghệ đẩy mạnh ứng dụng công nghệ chuỗi khối (blockchain), mã QR và tem thông minh trong truy xuất nguồn gốc; Công an tỉnh chủ trì định danh điện tử người bán để ngăn chặn tài khoản ảo; Ngân hàng Nhà nước khu vực giám sát luồng tiền giao dịch nghi vấn. Cùng với đó, Sàn giao dịch thương mại điện tử Nghệ An từng bước thiết lập thế đối trọng, hỗ trợ 478 doanh nghiệp với 3.747 sản phẩm, đưa thành công 95% sản phẩm OCOP lên sàn, bảo vệ vững chắc thị phần cho hàng hóa địa phương.
Sự thống nhất từ tầm nhìn chiến lược của Trung ương đến các quyết sách cụ thể tại địa phương là câu trả lời thực tiễn trước các luận điệu xuyên tạc về một nền kinh tế bị mắc kẹt trong gia công thô. Lộ trình hướng tới nền công nghiệp tự chủ không hình thành từ những tuyên ngôn suông, mà đang được hiện thực hóa bằng năng lực quản trị nhà nước thực chất, từng bước đưa dân tộc tự tin khẳng định vị thế tự cường trong kỷ nguyên vươn mình.
Kết bài
Luận điệu quy chụp, bôi nhọ nền công nghiệp Việt Nam “lệ thuộc gia công” thực chất là sản phẩm của thứ tư duy siêu hình, phi lịch sử, tách rời sự vật khỏi quy luật vận động khách quan. Dưới lăng kính quy luật lượng - chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, việc tham gia vào chuỗi lắp ráp toàn cầu hoàn toàn không phải là “cam chịu kiếp làm thuê vĩnh viễn”. Đó là giai đoạn chiến lược để tích lũy về "lượng": nguồn vốn, hạ tầng, kỷ luật lao động và tri thức quản trị. Khi sự chuẩn bị về “lượng” đạt đến “điểm nút”, nền kinh tế tất yếu phải nhảy vọt về “chất”. Tầm nhìn về tự chủ công nghệ tại Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và định hướng cốt lõi của Đại hội XIV chính là bệ phóng thể chế cho bước chuyển mình mang tính thời đại đó. Tiến trình này đang từng ngày được hiện thực hóa sinh động, thuyết phục từ thực tiễn tại các địa phương như Nghệ An cho đến những công trình chip bán dẫn quốc gia, xây đắp vững chắc nền tảng cho một Việt Nam công nghiệp hóa độc lập, tự chủ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng đau đáu khát vọng xây dựng đất nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu”. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang biến công nghệ thành thước đo quyền lực kinh tế và định đoạt tương quan lực lượng chính trị toàn cầu, di nguyện của Người đặt ra cho thế hệ hôm nay một mệnh lệnh sống còn: phải làm chủ công nghệ lõi, kiến tạo nền công nghiệp tự chủ.
Con đường bước tới đài vinh quang đó phải được bảo vệ bằng năng lực kiến tạo của Đảng, bản lĩnh điều hành của Nhà nước, tư duy sắc bén ở mỗi địa phương và những mắt xích công nghệ cao do chính khối óc người Việt nắm giữ. Kiên định lộ trình tự chủ công nghệ dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng chính là hành động cách mạng thiết thực nhất để đập tan mọi mưu đồ xuyên tạc, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là bệ phóng đưa dân tộc Việt Nam vững vàng bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình và cất cánh./.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.
[2] Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) (2025), Báo cáo: Hướng tới chiến lược kỹ năng cho ngành dệt may Việt Nam.
[3] C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1994), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 20, tr. 475.
[4] Trần Quang Diệu (2025), “Hành trình phát triển khoa học, công nghệ của Hàn Quốc...”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 19/8/2025, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1121802/hanh-trinh-phat-trien-khoa-hoc, truy cập ngày 10/5/2026.
[5] Anh Minh (2025), “DeepSeek, ứng dụng AI hùng mạnh mới của Trung Quốc, làm chấn động làng công nghệ thế giới và Washington”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ngày 28/1/2025, https://vjst.vn/deepseek-ung-dung-ai-hung-manh-moi-cua-trung-quoc-lam-chan-dong-lang-cong-nghe-the-gioi-va-washington-68785.html, truy cập ngày 10/5/2026.
[6] Stan Shih (1996), Me-Too Is Not My Style: Challenge Difficulties, Break Through Bottlenecks, Create Value, The Acer Foundation, Taipei, Chap. 11.
[7] Ngân hàng Thế giới (2020), Báo cáo Phát triển Thế giới 2020: Thương mại phục vụ phát triển trong kỷ nguyên Chuỗi giá trị toàn cầu, Washington, DC, tr. 45-47.
[8] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
[9] Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, Hà Nội.
[10] Báo Điện tử Chính phủ (2025), "Gartner: Viettel là một trong những nhà cung cấp thiết bị vô tuyến 5G toàn cầu", Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/gartner-viettel-la-mot-trong-nhung-nha-cung-cap-thiet-bi-vo-tuyen-5g-toan-cau-102251022172403834.htm, truy cập ngày 25/5/2026.
[11] Ngọc Vy (2026), “Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 19/1/2026, https://nhandan.vn/viet-nam-se-buoc-vao-nhom-so-it-quoc-gia-so-huu-nang-luc-che-tao-chip-ban-dan-post937869.html, truy cập ngày 12/5/2026.
[12] Văn Toản (2024), “Việt Nam và NVIDIA hợp tác thành lập 2 trung tâm về trí tuệ nhân tạo”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 5/12/2024, https://nhandan.vn/viet-nam-va-nvidia-hop-tac-thanh-lap-2-trung-tam-ve-tri-tue-nhan-tao-post848754.html, truy cập ngày 14/5/2026.
[13] Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2021), Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 23/12/2021 về phát triển nhanh và bền vững ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2021-2030, Nghệ An.
[14] Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2022), Kế hoạch số 174/KH-UBND ngày 14/3/2022 thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Nghệ An.
[15] Bộ Chính trị (2023), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 18/7/2023 về xây dựng và phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.
[16] Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2025), Quyết định số 3836/QĐ-UBND ngày 25/11/2025 về việc phân bổ kinh phí hỗ trợ khuyến công (đợt 2) năm 2025, Nghệ An.
[17] Sở Công Thương tỉnh Nghệ An (2024), Báo cáo kết quả thực hiện Thông tư số 26/2014/TT-BCT và Thông tư số 14/2018/TT-BCT về công tác bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, tháng 5/2024, Nghệ An.
[18] Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, Hà Nội.
[19] Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc - UNIDO (2024), Industrial Development Report 2024: Turning Challenges into Sustainable Solutions — The New Era of Industrial Policy, UNIDO, Vienna, tr. 13.
[20] Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg ngày 19/4/2019 quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, Hà Nội.
[21] Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2025), Kế hoạch số 611/KH-UBND ngày 25/7/2025 về thực hiện Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 và Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ và Kế hoạch số 358-KH/TU ngày 24/7/2025 của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghệ An.
[22] Văn phòng Trung ương Đảng (2026), Báo cáo số 77-BC/VPTW ngày 13/4/2026 về một số vấn đề trọng tâm trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội.
[23] Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương (2026), Thông báo kết luận số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026 về định hướng thúc đẩy nền tảng phát triển tương lai và ứng dụng khoa học, công nghệ, Hà Nội.
[24] UBND tỉnh Nghệ An (2026), Quyết định số 794/QĐ-UBND ngày 10/3/2026 ban hành Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026-2030, Nghệ An.
[25] Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2025), Công văn số 8478/UBND-KT ngày 19/8/2025 về tăng cường quản lý nhà nước, đấu tranh, phòng chống gian lận thương mại trên môi trường số, Nghệ An.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Anh Minh (2025), “DeepSeek, ứng dụng AI hùng mạnh mới của Trung Quốc, làm chấn động làng công nghệ thế giới và Washington”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ngày 28/1/2025, https://vjst.vn/deepseek-ung-dung-ai-hung-manh-moi-cua-trung-quoc-lam-chan-dong-lang-cong-nghe-the-gioi-va-washington-68785.html, truy cập ngày 10/5/2026.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An (2021), Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 23/12/2021 về phát triển nhanh và bền vững ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2021-2030, Nghệ An.
Báo Điện tử Chính phủ (2025), "Gartner: Viettel là một trong những nhà cung cấp thiết bị vô tuyến 5G toàn cầu", Báo Điện tử Chính phủ, https://baochinhphu.vn/gartner-viettel-la-mot-trong-nhung-nha-cung-cap-thiet-bi-vo-tuyen-5g-toan-cau-102251022172403834.htm, truy cập ngày 25/5/2026.
Bộ Chính trị (2019), Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030, Hà Nội.
Bộ Chính trị (2023), Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 18/7/2023 về xây dựng và phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Hà Nội.
Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Hà Nội.
C. Mác và Ph. Ăng-ghen (1994), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập 20, tr. 475.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập 1.
Ngân hàng Thế giới (2020), Báo cáo Phát triển Thế giới 2020: Thương mại phục vụ phát triển trong kỷ nguyên Chuỗi giá trị toàn cầu, Washington, DC, tr. 45-47.
Ngọc Vy (2026), “Việt Nam sẽ bước vào nhóm số ít quốc gia sở hữu năng lực chế tạo chip bán dẫn”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 19/1/2026, https://nhandan.vn/viet-nam-se-buoc-vao-nhom-so-it-quoc-gia-so-huu-nang-luc-che-tao-chip-ban-dan-post937869.html, truy cập ngày 12/5/2026.
Sở Công Thương tỉnh Nghệ An (2024), Báo cáo kết quả thực hiện Thông tư số 26/2014/TT-BCT và Thông tư số 14/2018/TT-BCT về công tác bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu, tháng 5/2024, Nghệ An.
Stan Shih (1996), Me-Too Is Not My Style: Challenge Difficulties, Break Through Bottlenecks, Create Value, The Acer Foundation, Taipei, Chap. 11.
Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương (2026), Thông báo kết luận số 22-TB/CQTTBCĐ ngày 20/3/2026 về định hướng thúc đẩy nền tảng phát triển tương lai và ứng dụng khoa học, công nghệ, Hà Nội.
Thủ tướng Chính phủ (2019), Quyết định số 18/2019/QĐ-TTg ngày 19/4/2019 quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, Hà Nội.
Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg ngày 30/4/2026 ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, Hà Nội.
Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) (2025), Báo cáo: Hướng tới chiến lược kỹ năng cho ngành dệt may Việt Nam.
Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc - UNIDO (2024), Industrial Development Report 2024: Turning Challenges into Sustainable Solutions - The New Era of Industrial Policy, UNIDO, Vienna, tr. 13.
Trần Quang Diệu (2025), “Hành trình phát triển khoa học, công nghệ của Hàn Quốc...”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 19/8/2025, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/1121802/hanh-trinh-phat-trien-khoa-hoc, truy cập ngày 10/5/2026.
UBND tỉnh Nghệ An (2026), Quyết định số 794/QĐ-UBND ngày 10/3/2026 ban hành Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ tỉnh Nghệ An giai đoạn 2026-2030, Nghệ An.
Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2022), Kế hoạch số 174/KH-UBND ngày 14/3/2022 thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Nghệ An.
Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2025), Công văn số 8478/UBND-KT ngày 19/8/2025 về tăng cường quản lý nhà nước, đấu tranh, phòng chống gian lận thương mại trên môi trường số, Nghệ An.
Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2025), Kế hoạch số 611/KH-UBND ngày 25/7/2025 về thực hiện Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 và Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 của Chính phủ và Kế hoạch số 358-KH/TU ngày 24/7/2025 của Ban Chấp hành đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghệ An.
Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2025), Quyết định số 3836/QĐ-UBND ngày 25/11/2025 về việc phân bổ kinh phí hỗ trợ khuyến công (đợt 2) năm 2025, Nghệ An.
Văn phòng Trung ương Đảng (2026), Báo cáo số 77-BC/VPTW ngày 13/4/2026 về một số vấn đề trọng tâm trong triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Hà Nội.
Văn Toản (2024), “Việt Nam và NVIDIA hợp tác thành lập 2 trung tâm về trí tuệ nhân tạo”, Báo Nhân Dân điện tử, ngày 5/12/2024, https://nhandan.vn/viet-nam-va-nvidia-hop-tac-thanh-lap-2-trung-tam-ve-tri-tue-nhan-tao-post848754.html, truy cập ngày 14/5/2026.
