Tự động hóa sản xuất tạo chuyển biến thực chất tại Vinachem

Từ bốc xếp hàng hóa, xếp bao sản phẩm đến cắt, nối vải mành, tự động hóa đang cho thấy hiệu quả thực chất tại nhiều đơn vị thuộc Vinachem khi góp phần giảm lao động thủ công, nâng cao năng suất, cải thiện điều kiện làm việc và ổn định quy trình sản xuất.

Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, Tập đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam (Vinachem) đã tập trung triển khai các giải pháp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số gắn trực tiếp với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong đó, tự động hóa sản xuất được xác định là một hướng đi thiết thực, có khả năng tạo chuyển biến rõ nét về năng suất lao động, hiệu quả quản trị, chất lượng sản phẩm, điều kiện làm việc của người lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Một trong những kết quả nổi bật là hệ thống robot, thiết bị tự động đã từng bước được đưa vào các công đoạn còn sử dụng nhiều lao động thủ công tại một số đơn vị thành viên. Từ bốc xếp hàng hóa, xếp bao sản phẩm đến cắt, nối vải mành, các giải pháp tự động hóa không chỉ giúp giảm chi phí, nâng cao năng suất mà còn góp phần chuẩn hóa quy trình sản xuất, cải thiện điều kiện làm việc và tăng độ ổn định của sản phẩm.

hệ thống robot tự động hóa
Hệ thống robot bốc xếp hàng tự động tại Công ty CP Bột giặt LIX góp phần giảm lao động trực tiếp, tiết giảm chi phí nhân công và nâng cao hiệu quả vận hành tại các nhà máy

Tại Công ty CP Bột giặt LIX, hệ thống robot bốc xếp hàng tự động đã được đầu tư tại các nhà máy Bình Dương, Thủ Đức và Bắc Ninh. Việc đưa robot vào khâu bốc xếp phù hợp với đặc thù sản xuất của đơn vị, nhất là ở những công đoạn có nhu cầu lao động trực tiếp lớn, lặp lại nhiều lần và cần bảo đảm sự ổn định trong vận hành. Hệ thống robot giúp giảm mạnh số lao động trực tiếp, nâng cao mức độ an toàn, đồng thời góp phần cải thiện chất lượng sản phẩm đầu ra thông qua việc thiết lập chính xác các thông số trước khi sản xuất.

Hiệu quả tại LIX được thể hiện rõ qua các dự án robot bốc xếp tự động ở ba nhà máy Bình Dương, Thủ Đức và Bắc Ninh. Ở Chi nhánh Bình Dương, sau khi đầu tư hệ thống robot, nhu cầu lao động trực tiếp giảm từ 45 người xuống còn 12 người; chi phí nhân công giảm từ khoảng 6,75 tỷ đồng/năm xuống còn khoảng 1,8 tỷ đồng/năm. Sau khi tính thêm chi phí bảo hành, bảo trì, mức tiết giảm thực tế đạt khoảng 4,65 tỷ đồng/năm. Với Nhà máy LIX Thủ Đức, số lao động trực tiếp giảm từ 14 người xuống còn 2 người, chi phí nhân công còn khoảng 300 triệu đồng/năm; dự án có thời gian hoàn vốn khoảng 5,37 năm, tỷ suất hoàn vốn nội bộ đạt 26,74%, cao hơn mức WACC 12%. Tại LIX Bắc Ninh, công đoạn bốc xếp trước đây cần 10 lao động phổ thông/ca, sau đầu tư robot giảm còn 2 người vận hành máy/ca; thời gian hoàn vốn của dự án là 7,76 năm, tỷ suất hoàn vốn nội bộ đạt 17%, cao hơn WACC 12%.

Từ các kết quả tại Bình Dương, Thủ Đức và Bắc Ninh có thể thấy, tự động hóa tại LIX không chỉ giúp thay thế lao động thủ công, mà còn tạo ra hiệu quả tài chính rõ ràng, nâng cao năng lực tổ chức sản xuất và tính ổn định trong vận hành.

tự động hóa 1
Robot gắp, xếp bao sản phẩm tại Công ty Cổ phần DAP số 2 - Vinachem giúp nâng cao tính chính xác trong khâu xếp bao lên pallet, hỗ trợ hiệu quả công tác vận chuyển, lưu kho và xuất bán

Ở Công ty CP DAP số 2 - Vinachem, robot gắp, xếp bao đã được đưa vào sử dụng trong khâu xếp sản phẩm lên pallet. Theo thiết kế, sản phẩm sau khi sản xuất được robot xếp lên các pallet, mỗi pallet có tải trọng khoảng 2 tấn DAP, tương đương các bao 50 kg. Mỗi robot có năng suất thiết kế khoảng 40 tấn/giờ, thực tế có thể đạt khoảng 40 - 45 tấn/giờ. Việc ứng dụng robot giúp sản phẩm được sắp xếp ngay ngắn, chuẩn xác, hạn chế tình trạng xô lệch trong quá trình vận chuyển, lưu kho và xuất bán.

Điểm đáng chú ý tại DAP số 2 là hiệu quả tự động hóa không chỉ nằm ở năng suất, mà còn ở việc cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Trước đây, bốc xếp bao là công đoạn nặng nhọc, người lao động phải làm việc trong môi trường nóng, điều kiện không khí không thuận lợi. Khi robot được đưa vào thay thế công đoạn bốc xếp thủ công, người lao động giảm phải tiếp xúc trực tiếp với môi trường nặng nhọc, trong khi quá trình xếp bao lên pallet được chuẩn hóa hơn. Nếu không có robot, công đoạn này cần khoảng 3 lao động/ca cho mỗi bên, tương đương khoảng 24 lao động khi tính theo các ca sản xuất. Như vậy, việc ứng dụng robot đã góp phần giảm đáng kể lao động trực tiếp ở khâu xếp bao, đồng thời hỗ trợ tốt hơn cho công tác lưu kho, vận chuyển và xuất bán hàng.

Trên cơ sở hiệu quả thực tế từ hệ thống robot xếp bao, DAP số 2 đang định hướng tiếp tục tự động hóa khâu đóng bao - công đoạn hiện còn sử dụng nhiều lao động trực tiếp. Ở công đoạn này, người lao động phải thực hiện nhiều thao tác liên tục như lồng vỏ bao, theo dõi cân định lượng, đưa miệng bao vào máy khâu để hoàn thiện sản phẩm. Hiện khâu đóng bao sử dụng khoảng 27 lao động. Khi đầu tư hệ thống đóng bao tự động, nhu cầu lao động dự kiến giảm còn khoảng 4 người, qua đó giảm khoảng 23 lao động trực tiếp. Đây là bước đi tiếp nối hiệu quả đã đạt được từ robot xếp bao, đồng thời cho thấy DAP số 2 đang lựa chọn đúng trọng tâm tự động hóa: tập trung vào các công đoạn còn dư địa lớn để tự động hóa, có khả năng tạo chuyển biến rõ về năng suất, tổ chức lao động và tính ổn định trong vận hành.

tự động hóa 2
Máy cắt, nối vải mành tự động bằng cánh tay robot tại Công ty CP Cao su Đà Nẵng góp phần nâng cao độ chính xác mối nối, tăng năng suất và bảo đảm độ ổn định của sản phẩm lốp

Đối với Công ty CP Cao su Đà Nẵng, tự động hóa được triển khai trong công đoạn cắt, nối vải mành, một khâu quan trọng trong quy trình sản xuất lốp ô tô bias và lốp ô tô bán thép. Theo quy trình sản xuất, vải mành sau khi cán tráng được chuyển qua công đoạn cắt tấm với các góc cắt và chiều dài khác nhau theo thiết kế; sau đó các tấm vải được nối lại thành từng cuộn để cung cấp cho máy thành hình. Mối nối yêu cầu mật độ chồng mí đồng đều, chính xác và thẳng mép, bởi đây là yếu tố ảnh hưởng đến độ cân bằng, ổn định của lốp trong quá trình sử dụng.

Trước đây, công đoạn nối vải mành tại DRC được thực hiện bằng phương pháp thủ công, phụ thuộc nhiều vào thao tác và tay nghề công nhân. Điều này khiến việc bảo đảm độ đồng đều, độ chính xác và năng suất ổn định gặp khó khăn. Việc nghiên cứu, chế tạo máy cắt nối vải tự động bằng cánh tay robot đã giúp nâng cao độ chính xác của mối nối, bảo đảm tính đồng đều của sản phẩm, góp phần nâng cao chất lượng lốp bias và lốp bán thép, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của khách hàng.

Hiệu quả của hệ thống robot tại DRC thể hiện rõ ở cả năng suất và sử dụng lao động. Máy cắt nối vải tự động có công suất khoảng 14 mối nối/phút và chỉ cần 1 công nhân đứng máy. Trong khi đó, máy cắt nối thủ công trước đây đạt khoảng 7 mối nối/phút và cần 2 công nhân đứng máy. Như vậy, để đạt cùng năng suất, phương pháp thủ công phải sử dụng 2 máy và 4 công nhân, trong khi hệ thống tự động giúp tinh gọn nhân lực, giảm phụ thuộc vào thao tác thủ công, nâng cao độ ổn định và hiệu quả sản xuất.

Từ thực tế tại LIX, DAP số 2 và DRC có thể thấy, tự động hóa sản xuất đang trở thành hướng triển khai thiết thực trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW tại Vinachem. Các hệ thống robot và thiết bị tự động không chỉ góp phần giảm lao động thủ công, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, mà còn cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao chất lượng sản phẩm và chuẩn hóa quy trình sản xuất.

Từ những kết quả bước đầu, tự động hóa sản xuất đang được Vinachem triển khai theo hướng cụ thể, bám sát nhu cầu thực tế tại từng đơn vị. Việc đưa robot, thiết bị tự động vào các công đoạn còn sử dụng nhiều lao động thủ công là cơ sở để các đơn vị tiếp tục nghiên cứu, xây dựng kế hoạch đầu tư phù hợp với điều kiện sản xuất, qua đó cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

 

Nguyệt Anh