Từ phòng vệ thương mại đến xây dựng một thị trường năng động, minh bạch, bảo vệ ngành sản xuất trong nước

Theo Phó Cục trưởng Cục Quản lý và phát triển thị trường trong nước Bùi Nguyễn Anh Tuấn, phòng vệ thương mại không phải là chiếc ô che doanh nghiệp khỏi cạnh tranh mà phải là công cụ giúp khôi phục điều kiện cạnh tranh công bằng trước những hành vi hoặc biến động thuộc phạm vi pháp luật cho phép xử lý, đồng thời tạo ra một khoảng thời gian đủ để ngành sản xuất điều chỉnh và nâng cấp.
hó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước Bùi Nguyễn Anh Tuấn
Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước Bùi Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ tại Diễn đàn Phòng vệ thương mại năm 2026 với chủ đề Thúc đẩy năng lực sản xuất quốc gia - Kiến tạo động lực cho tăng trưởng” tổ chức ngày 18/9/2026

Chia sẻ tại Diễn đàn Phòng vệ thương mại năm 2026 tổ chức ngày 18/9/2026, Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước Bùi Nguyễn Anh Tuấn cho biết, khi nhắc đến phòng vệ thương mại, chúng ta thường bắt đầu bằng những khái niệm khá kỹ thuật: mã HS, biên độ bán phá giá, lượng nhập khẩu, thiệt hại, quan hệ nhân quả. Nhưng doanh nghiệp lại cảm nhận câu chuyện ấy rất khác. Đó có thể là một lò thép phải giảm công suất; một kho kính đầy lên nhanh hơn dự kiến; một đại lý gạch thay đổi cơ cấu hàng hóa chỉ sau vài tháng; hay một doanh nghiệp thực phẩm bỗng thấy giá một đầu vào quan trọng biến động mạnh. Nói cách khác, phòng vệ thương mại không chỉ nằm trong hồ sơ điều tra mà đi qua cả chuỗi cung ứng và hiện diện ngoài thị trường.

Một biện pháp phòng vệ thương mại có thể được quyết định ở biên giới, nhưng hiệu quả thực sự của nó được kiểm chứng tại nhà máy, trên hệ thống phân phối và cuối cùng ở thị trường”, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhận định, đồng thời cho biết điều này càng đáng lưu ý hơn trong năm 2026 khi phòng vệ thương mại ngày càng gắn chặt với quản trị thị trường.

Theo đó, cần giữ một nguyên tắc rõ ràng: Phòng vệ thương mại không phải là chiếc ô che doanh nghiệp khỏi cạnh tranh. Cạnh tranh vẫn phải là động lực nâng năng suất. Công cụ phòng vệ thương mại chỉ có ý nghĩa khi giúp khôi phục điều kiện cạnh tranh công bằng trước những hành vi hoặc biến động thuộc phạm vi pháp luật cho phép xử lý, đồng thời tạo ra một khoảng thời gian đủ để ngành sản xuất điều chỉnh và nâng cấp.

Vì vậy, thay vì hỏi chỉ hỏi “sau khi áp dụng biện pháp, nhập khẩu đã giảm bao nhiêu?”, chúng ta nên hỏi thêm những câu hỏi rất đời thường đối với doanh nghiệp: đơn hàng trong nước có trở lại không; công suất nhà máy có tăng không; tồn kho có giảm không; doanh nghiệp có đầu tư máy móc mới không; giá bán lẻ có biến động bất thường không; người mua có còn đủ lựa chọn không? Đó mới là bức tranh đầy đủ về hiệu quả của một biện pháp”, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh.

Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước Bùi Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ tại Diễn đàn Phòng vệ thương mại năm 2026 với chủ đề Thúc đẩy năng lực sản xuất quốc gia - Kiến tạo động lực cho tăng trưởng” tổ chức ngày 18/9/2026
Từ góc độ quản lý nhà nước đối với thị trường trong nước, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn đề xuất 4 giải pháp có thể góp phần làm cho công cụ phòng vệ thương mại gần doanh nghiệp hơn và hiệu quả hơn

Từ góc độ quản lý nhà nước đối với thị trường trong nước, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn đề xuất 4 giải pháp có thể góp phần làm cho công cụ phòng vệ thương mại gần doanh nghiệp hơn và hiệu quả hơn.

Thứ nhất, cần chuyển từ “nhìn luồng hàng” sang “nhìn cả chuỗi”.

Một mã HS là điểm bắt đầu rất quan trọng nhưng chưa phải toàn bộ câu chuyện, trong thực tế, cùng một nhóm hàng có thể khác nhau về độ dày, chiều rộng, thành phần, công dụng, chất lượng, phân khúc giá và kênh phân phối. Ngành thép là ví dụ rất rõ, khi phạm vi sản phẩm thay đổi ở một thông số kỹ thuật, dòng hàng có thể dịch chuyển sang một chủng loại liền kề. Đối với gạch hoặc kính, cạnh tranh có thể diễn ra khác nhau giữa phân khúc phổ thông và cao cấp, giữa dự án xây dựng và bán lẻ hộ gia đình. Nếu chỉ nhìn tổng kim ngạch thì rất dễ bỏ qua những thay đổi đang diễn ra ở cấp độ sản phẩm và thị trường thực.

Do đó, mỗi ngành có rủi ro cao cần dần hình thành một “bản đồ chuỗi cung ứng”: nguồn nguyên liệu chính ở đâu, công suất trong nước bao nhiêu, ai là những nhà nhập khẩu và phân phối lớn, hàng đi qua kênh nào, tồn kho và giá thay đổi ra sao, sản phẩm nhập khẩu thay thế hàng trong nước đến mức nào. Khi có bản đồ đó, cơ quan quản lý và doanh nghiệp sẽ không phải chờ đến khi lợi nhuận giảm sâu mới nhận ra có điều gì bất thường.

Từ góc độ quản lý nhà nước đối với thị trường trong nước, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn đề xuất 4 giải pháp có thể góp phần làm cho công cụ phòng vệ thương mại gần doanh nghiệp hơn và hiệu quả hơn.
Các đại biểu tham dự Diễn đàn

Thứ hai, phải chuyển từ phản ứng sau thiệt hại sang cảnh báo sớm.

Một doanh nghiệp thường chỉ tìm đến công cụ phòng vệ thương mại khi đã cảm nhận rất rõ sức ép: đơn hàng giảm, tồn kho tăng, giá bị ép xuống hoặc công suất phải cắt giảm, nhưng đến lúc đó, việc tập hợp dữ liệu và chứng minh một chuỗi diễn biến trong nhiều năm trở nên rất khó. Cách làm tốt hơn là nhìn các tín hiệu nhỏ trước khi chúng trở thành một vấn đề lớn: nhập khẩu tăng nhanh; giá nhập khẩu giảm bất thường; một thị trường lớn vừa áp dụng biện pháp khiến dòng hàng có nguy cơ chuyển hướng; một nước có năng lực sản xuất hạn chế nhưng xuất khẩu sang Việt Nam bỗng tăng mạnh; hoặc hàng hóa thay đổi hướng đi, thông số kỹ thuật hay cấu trúc xuất xứ.

Từng tín hiệu riêng lẻ chưa phải bằng chứng của vi phạm. Nhưng nếu nhiều tín hiệu cùng xuất hiện, đó là lúc doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan quản lý cần ngồi lại với nhau. Mục tiêu là chuyển từ “trade remedy response” sang “trade remedy readiness” - từ chạy theo một vụ việc đã xảy ra sang có năng lực chuẩn bị trước.

Thứ ba, dữ liệu phải trở thành một phần của năng lực quản trị doanh nghiệp.

Trong thực tế, điểm nghẽn của doanh nghiệp nhiều khi không phải thiếu luật sư mà là thiếu dữ liệu đủ sạch, đủ dài và đủ nhất quán. Một hồ sơ cần nhìn được sản lượng, giá bán, chi phí, công suất, tồn kho, thị phần, lợi nhuận, nguồn nguyên liệu và biến động theo thời gian. Những con số đó không thể được tạo ra trong một thời gian ngắn hay khi xảy ra vấn đề.

Theo đó, các ngành thường xuyên đối mặt với phòng vệ thương mại - đặc biệt là thép, kim loại, vật liệu xây dựng, hóa chất, một số sản phẩm nông nghiệp và hàng tiêu dùng có mức cạnh tranh nhập khẩu cao - coi việc duy trì một “data room” tối thiểu 36 tháng là công việc bình thường. Cùng với đó, hiệp hội có thể đóng vai trò tập hợp dữ liệu ngành; doanh nghiệp chịu trách nhiệm dữ liệu của mình; còn cơ quan nhà nước cung cấp chuẩn dữ liệu, cảnh báo và hướng dẫn. Khi cần khởi xướng hoặc ứng phó một vụ việc, chúng ta sẽ bước vào bàn làm việc với dữ liệu đã sẵn sàng, thay vì bắt đầu bằng việc đi tìm lại hồ sơ cũ.

Thứ tư, phải tiếp tục nhìn thị trường sau khi biện pháp đã có hiệu lực.

Đối với doanh nghiệp, một quyết định áp dụng biện pháp thường được nhìn như một “điểm kết thúc”. Nhưng với cơ quan quản lý, đó phải là điểm bắt đầu của một vòng theo dõi mới. Nếu hàng nhập khẩu từ một nguồn giảm nhưng tăng nhanh từ nước thứ ba, cần xem xét nguyên nhân. Nếu thị phần của doanh nghiệp trong nước tăng nhưng đầu tư và năng suất không cải thiện, cũng cần đặt câu hỏi. Nếu thị trường thiếu nguồn cung hoặc giá bán lẻ tăng bất thường, chúng ta phải hiểu vì sao.

Đặc biệt với hàng tiêu dùng và vật liệu phục vụ xây dựng, tác động luôn lan qua nhiều tầng. Một nhà sản xuất kính có thể cần môi trường cạnh tranh công bằng, nhưng doanh nghiệp xây dựng cũng cần nguồn cung ổn định; một nhà sản xuất gạch cần có cơ hội đầu tư, nhưng hệ thống phân phối và người mua nhà cũng quan tâm đến giá và lựa chọn. Chính sách tốt là chính sách nhìn được đồng thời những lợi ích đó, thay vì đặt chúng đối lập với nhau.

Ngoài ra, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn đề xuất thêm, bên cạnh hệ thống dữ liệu và cảnh báo sớm, Việt Nam nên xây dựng một mạng lưới chuyên gia phòng vệ thương mại có thể huy động theo từng ngành và từng vụ việc. Một vụ việc hiện nay không chỉ cần chuyên gia pháp lý; còn cần kinh tế học, kế toán chi phí, hải quan - xuất xứ, công nghệ ngành, chuỗi cung ứng và phân tích dữ liệu. Mạng lưới này có thể kết nối Cục Phòng vệ thương mại với các hiệp hội, trường đại học, viện nghiên cứu, chuyên gia doanh nghiệp, cơ quan thương vụ và một số chuyên gia quốc tế; có cơ chế rõ ràng về bảo mật và xung đột lợi ích.

"Đây có thể được xem là bước phát triển tiếp theo của hệ thống cảnh báo sớm đã được xây dựng trong những năm qua: dữ liệu giúp chúng ta nhìn thấy tín hiệu, còn chuyên gia giúp biến tín hiệu thành nhận định và hành động", ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn chia sẻ, đồng thời nêu 4 việc có thể làm tương đối cụ thể ngay trong thời gian tới.

Một là, thiết lập cơ chế chia sẻ và phân tích định kỳ giữa Cục Phòng vệ thương mại, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước và các đơn vị liên quan đối với một số nhóm hàng có rủi ro cao; kết nối dữ liệu biên giới với dữ liệu về giá, cung cầu, tồn kho, phân phối và lưu thông trong nước.

Hai là, xây dựng một bộ chỉ báo cảnh báo sớm theo ngành, đủ đơn giản để doanh nghiệp và hiệp hội sử dụng được với các biến số: tốc độ tăng nhập khẩu, giá đơn vị, thị phần, công suất trong nước, tồn kho, mức độ phụ thuộc nguồn cung, chuyển hướng thương mại và biến động giá thị trường.

Ba là, hình thành chuẩn dữ liệu tối thiểu để doanh nghiệp chuẩn bị trước, đồng thời khuyến khích hiệp hội từng bước trở thành “trung tâm dữ liệu ngành” chứ không chỉ là nơi tập hợp kiến nghị, đề xuất của ngành. Hiện nay một số Hiệp hội đang quan tâm và bắt đầu làm tốt việc này, cần nhân rộng tất cả các ngành.

Bốn là, sau khi biện pháp được áp dụng, cần đánh giá định kỳ không chỉ hiệu lực pháp lý mà cả kết quả kinh tế: đầu tư có tăng không, năng suất có cải thiện không, năng lực cạnh tranh có tốt hơn không, nguồn cung và người tiêu dùng bị tác động thế nào. Đây sẽ là căn cứ quan trọng đánh giá toàn diện về các biện pháp áp dụng.

Từ góc độ quản lý nhà nước đối với thị trường trong nước, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn đề xuất 4 giải pháp có thể góp phần làm cho công cụ phòng vệ thương mại gần doanh nghiệp hơn và hiệu quả hơn.
Các đại biểu tham dự Diễn đàn

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, nếu coi phòng vệ thương mại là một “lá chắn”, thì lá chắn ấy không thể đứng một mình ở cửa khẩu, phía sau phải là một doanh nghiệp biết đổi mới, một ngành có dữ liệu, một chuỗi cung ứng minh bạch, một thị trường được theo dõi tốt và một hệ thống chuyên gia đủ năng lực phản ứng nhanh.

Mục tiêu cuối cùng không phải là có nhiều biện pháp phòng vệ thương mại hơn, mà là có một nền sản xuất đủ mạnh, một thị trường đủ minh bạch và doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh để ngày càng ít phải dựa vào sự bảo vệ đó.

"Nếu làm được như vậy, chúng ta sẽ chuyển từ tư duy “bảo vệ thị trường” sang một tư duy chủ động hơn: kiến tạo một thị trường có khả năng tự bảo vệ bằng năng lực cạnh tranh", ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhấn mạnh.

Huyền My