[Emagazine] Chủ động nhận diện sớm những rủi ro phòng vệ thương mại với thép xuất khẩu
Trước những biến động về chính sách thương mại tại các thị trường nhập khẩu, doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu thép Việt Nam cần chủ động theo dõi các cảnh báo, nhận diện nguy cơ theo từng sản phẩm, thị trường và chuẩn hóa dữ liệu từ sớm để nâng cao khả năng ứng phó khi phát sinh vụ việc phòng vệ thương mại
Ngành thép Việt Nam đang tiếp tục mở rộng năng lực sản xuất, chủng loại sản phẩm và mức độ tham gia chuỗi cung ứng. Theo số liệu tổng hợp của Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA), trong 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng thép thô đạt 12,553 triệu tấn, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm 2025; sản xuất thép thành phẩm các loại đạt 14,91 triệu tấn, tăng 14,5%. Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cũng xác định định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tỷ trọng xuất khẩu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cùng với quá trình mở rộng sản xuất và thị trường, doanh nghiệp thép Việt Nam ngày càng phải theo dõi sát hơn những thay đổi về chính sách thương mại tại các nước nhập khẩu.
Ông Nghiêm Xuân Đa - Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, thép là một trong những ngành hàng xuất khẩu điển hình thường xuyên phải đối mặt với các vụ kiện phòng vệ thương mại.
Theo ông Nghiêm Xuân Đa, qua theo dõi diễn biến, Hiệp hội Thép Việt Nam nhận thấy, các vụ kiện phòng vệ thương mại với thép xuất khẩu của Việt Nam cũng như nhiều loại hàng hoá khác không chỉ xảy ra ở các thị trường lớn như Hoa Kỳ, Canada, Australia, châu Âu… mà còn xảy ra ngày càng nhiều ở các nước trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia…
“Điều đó cho thấy xu hướng rất rõ là trong thời gian tới, hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam có thể bị kiện phòng vệ thương mại ở bất cứ quốc gia nào, thị trường lớn hay nhỏ, lĩnh vực hay loại hàng hóa nào”, ông Đa chia sẻ.

Trong danh sách cảnh báo các mặt hàng có nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại của Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), một số mặt hàng thép và sản phẩm thép xuất khẩu của Việt Nam hiện đang có nguy cơ bị điều tra phòng vệ thương mại tại Hoa Kỳ, Mexico, Canada, Australia và Liên minh châu Âu (EU). Điểm chung là các mặt hàng này của Việt Nam đang có mức tăng trưởng cao hoặc chiếm thị phần đáng kể, trong khi các nước nhập khẩu cũng đã áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại với sản phẩm tương tự từ nhiều quốc gia khác.
Trong đó, cáp thép dự ứng lực là một trong những mặt hàng được Cục Phòng vệ thương mại cảnh báo khi xuất khẩu sang thị trường Mexico và Hoa Kỳ.
Số liệu từ Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, năm 2025, kim ngạch xuất khẩu cáp thép dự ứng lực của Việt Nam sang Mexico đạt 51,2 triệu USD, tăng tới 231,5% so với năm 2024 và chiếm khoảng 29,8% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của Mexico.
Mức tăng hơn 3 lần trong một năm cho thấy khả năng thâm nhập nhanh của sản phẩm Việt Nam sang thị trường này, nhưng đáng chú ý hơn là sự gia tăng này diễn ra trong bối cảnh Mexico đã áp dụng thuế chống bán phá giá đối với cáp thép dự ứng lực nhập khẩu từ Trung Quốc, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Tại Hoa Kỳ, kim ngạch xuất khẩu cáp thép dự ứng lực của Việt Nam trong năm 2025 đạt 25,2 triệu USD, giảm 11,9% so với năm 2024 nhưng vẫn chiếm 27,1% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại của thị trường này. Đến 3 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu tiếp tục giảm 20,1% so với cùng kỳ, đạt 6,4 triệu USD, tuy nhiên, tỷ trọng của Việt Nam lại tăng lên 34,6% tổng nhập khẩu và Việt Nam hiện là nguồn cung lớn nhất tại thị trường Hoa Kỳ.
Bên cạnh đó, Hoa Kỳ đã áp dụng thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp đối với cáp thép dự ứng lực nhập khẩu từ 22 thị trường, trong đó có Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Thổ Nhĩ Kỳ. Trường hợp này cho thấy kim ngạch giảm không đồng nghĩa rủi ro giảm nếu hàng hóa Việt Nam vẫn duy trì thị phần lớn hoặc gia tăng vị trí trong cơ cấu nhập khẩu của nước sở tại.
Không chỉ cáp thép dự ứng lực, những biến động về kim ngạch và thị phần cũng đang được ghi nhận đối với ống thép hàn carbon tại Canada. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu ống thép hàn carbon của Việt Nam sang Canada đạt 16,5 triệu USD, tăng 9% so với năm 2024, chiếm 7,2% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại. Việt Nam đứng thứ ba về cung cấp mặt hàng này tại Canada, chỉ sau Hoa Kỳ và UAE. Đồng thời, Canada cũng đã từng áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại đối với sản phẩm ông thép hàn carbon nhập khẩu từ một số quốc gia, trong đó có Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ, Hàn Quốc và UAE.

Tại Australia, thép kết cấu rỗng và thép mạ kẽm của Việt Nam cũng thuộc nhóm cần theo dõi. Năm 2025, xuất khẩu thép kết cấu rỗng sang Australia đạt 23,2 triệu USD, tăng 25,8% và chiếm 8,3% tổng kim ngạch nhập khẩu sản phẩm cùng loại. Đối với thép mạ kẽm, kim ngạch đạt 29,5 triệu USD, tăng 24% và chiếm 23,5% tổng nhập khẩu. Australia đã áp dụng biện pháp chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp đối với các sản phẩm tương tự từ một số nguồn cung.
Còn tại EU, một số mặt hàng của Việt Nam như thép dẹt cán nguội và thép không gỉ cán nguội tiếp tục nằm trong diện cảnh báo. EU hiện áp dụng biện pháp tự vệ đối với một số sản phẩm thép, đồng thời cũng đã áp dụng các biện pháp chống bán phá giá đối với nhiều sản phẩm và nguồn cung, trong đó có Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Ấn Độ và Indonesia.
Đối với thép không gỉ cán nguội, theo số liệu của S&P Global, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU năm 2023 đạt 231,5 triệu USD, chiếm 13% tổng lượng nhập khẩu của khu vực này và đưa Việt Nam lên vị trí thứ 4 trong số các nguồn cung. Năm 2024, kim ngạch giảm mạnh xuống 64,1 triệu USD, trước khi phục hồi lên 144,1 triệu USD trong năm 2025, tăng 124,7% so với năm trước.
Đà phục hồi tiếp tục trong những tháng đầu năm 2026. Trong 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 32,6 triệu USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ, chiếm 10,1% tổng nhập khẩu của EU. Việt Nam đứng thứ năm trong số các nhà cung cấp mặt hàng này. Đáng chú ý, xuất khẩu của Việt Nam tăng trong khi tổng kim ngạch nhập khẩu thép không gỉ cán nguội của EU cùng thời kỳ giảm 39,2%.
Cùng với thép không gỉ cán nguội, thép dẹt cán nguội của Việt Nam cũng đang duy trì tỷ trọng đáng kể trong tổng nhập khẩu của EU, mặc dù kim ngạch xuất khẩu trong những tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ.

Các mặt hàng nằm trong danh sách cảnh báo của Cục Phòng vệ thương mại nêu trên cho thấy diễn biến rủi ro phòng vệ thương mại không chỉ được phản ánh qua một chỉ tiêu duy nhất.
Có sản phẩm ghi nhận tốc độ tăng trưởng rất cao và nhanh chóng chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng nhập khẩu của thị trường như cáp thép dự ứng lực tại Mexico, nhưng cũng có sản phẩm kim ngạch giảm nhưng vẫn duy trì thị phần lớn như cáp thép dự ứng lực tại Hoa Kỳ. Ở những thị trường đã áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại với các nguồn cung khác, sự thay đổi cơ cấu nhập khẩu cũng có thể làm gia tăng mức độ theo dõi đối với hàng hóa Việt Nam.
Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại Chu Thắng Trung nhận định, nguy cơ các mặt hàng xuất khẩu, trong đó có mặt hàng thép Việt Nam tiếp tục phải đối diện với các vụ việc phòng vệ thương mại trong thời gian tới ở mức cao, xu hướng này đã diễn ra trong nhiều năm qua và nhiều khả năng sẽ tiếp diễn khi quy mô xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ngày càng lớn.

Nguyên nhân xuất phát các vụ kiện phòng vệ thương mại từ hai yếu tố : (i) sự thay đổi chính sách thương mại của các nền kinh tế trên thế giới; và (ii) tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đang có những kết quả tích cực, do lượng xuất khẩu tăng lên sẽ kéo theo nhiều rủi ro, phát sinh các vụ việc phòng vệ thương mại tăng lên.
“Đây là quy luật phổ biến chung trong thương mại quốc tế, không chỉ riêng với Việt Nam mà với các nền kinh tế có độ mở lớn và năng lực xuất khẩu cao sẽ là những đối tượng phải chịu ảnh hưởng bởi các vụ việc phòng vệ thương mại", ông Chu Thắng Trung nhận định đồng thời chia sẻ thêm, hiện nay cũng đang diễn ra xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu. Xu hướng này kéo theo sự quan tâm ngày càng lớn của các nước đối với các vấn đề như truy xuất nguồn gốc, nguồn gốc nguyên liệu và hàm lượng giá trị gia tăng được tạo ra tại địa điểm sản xuất hoặc gia công cuối cùng. Đây cũng là những yếu tố có thể làm phát sinh các rủi ro của vụ điều tra phòng vệ thương mại trong thời gian tới.
Theo đó, việc theo dõi nguy cơ cần được thực hiện thường xuyên đối với từng sản phẩm, mã HS và thị trường xuất khẩu. Bên cạnh kim ngạch, doanh nghiệp cần cập nhật lượng xuất khẩu, giá bán, tốc độ tăng trưởng, tỷ trọng trong tổng nhập khẩu, vị trí của Việt Nam so với các nguồn cung khác và những biện pháp phòng vệ thương mại đang được áp dụng đối với sản phẩm tương tự.
Cùng với đó, doanh nghiệp cũng cần theo dõi các nước xuất khẩu cạnh tranh. Khi một nguồn cung bị áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại, cơ cấu nhập khẩu tại thị trường có thể thay đổi. Việc cập nhật diễn biến đơn hàng, lượng xuất khẩu và thị phần của hàng Việt Nam sẽ giúp doanh nghiệp kịp thời rà soát mức độ rủi ro.


Đối với những mặt hàng có nguy cơ điều tra chống lẩn tránh, phạm vi theo dõi còn bao gồm nguồn gốc nguyên liệu và quá trình sản xuất tại Việt Nam. Do đó, doanh nghiệp cũng cần kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu đầu vào, bảo đảm hoạt động sản xuất tạo ra giá trị gia tăng phù hợp và lưu giữ đầy đủ chứng từ chứng minh xuất xứ.
Bên cạnh việc theo dõi diễn biến thị trường, quản trị dữ liệu cũng là một trong những nội dung mà doanh nghiệp cần chú trọng trong quá trình phòng ngừa và ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại.
Trong một vụ điều tra, doanh nghiệp có thể phải cung cấp thông tin liên quan đến nguyên liệu đầu vào, định mức tiêu hao, công suất, sản lượng, giá thành, giá bán, khách hàng, chứng từ xuất xứ và quá trình sản xuất thực tế.
Nếu dữ liệu nằm phân tán giữa các bộ phận kế toán, sản xuất, xuất khẩu, logistics và pháp chế, khả năng giải trình khi phát sinh vụ việc có thể bị ảnh hưởng. Vì vậy, các dữ liệu liên quan đến sản xuất và xuất khẩu cần được chuẩn hóa, cập nhật thường xuyên, bảo đảm khả năng truy xuất và đối chiếu giữa các bộ phận.
Để hạn chế rủi ro phòng vệ thương mại, Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương) khuyến nghị, doanh nghiệp cần bảo đảm minh bạch về giá bán, chi phí sản xuất và nguồn gốc nguyên liệu; lưu giữ đầy đủ hồ sơ liên quan và thường xuyên cập nhật các cảnh báo, diễn biến tại thị trường xuất khẩu.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu thường xuyên, cần thiết lập đầu mối hoặc nhóm công tác về phòng vệ thương mại với sự tham gia của các bộ phận pháp chế, kế toán, sản xuất, xuất khẩu, logistics, mua hàng và quản lý chất lượng. Hệ thống dữ liệu cần bao gồm tối thiểu thông tin về nguyên liệu, nhà cung cấp, định mức, công suất, sản lượng, giá thành, giá bán, khách hàng, thị trường, chứng từ xuất xứ và quy trình sản xuất.
Khi một vụ việc được khởi xướng, doanh nghiệp cần theo dõi đầy đủ thông báo và các mốc thời hạn; chủ động đăng ký tham gia, hợp tác với cơ quan điều tra và phối hợp với Cục Phòng vệ thương mại, hiệp hội ngành hàng trong quá trình xử lý.
Doanh nghiệp thép Việt Nam đã chủ động hơn trong phối hợp và cung cấp thông tin khi vụ việc phát sinh. Tuy nhiên, việc trả lời bảng câu hỏi, kiểm tra tính nhất quán của dữ liệu, tham gia thẩm tra và theo đuổi các thủ tục rà soát vẫn đòi hỏi nguồn lực và năng lực chuyên môn đáng kể.
Do đó, việc chuẩn bị không nên bắt đầu từ thời điểm doanh nghiệp nhận được thông báo khởi xướng. Theo dõi các cảnh báo, quản lý dữ liệu, kiểm soát nguồn nguyên liệu và duy trì cơ chế phối hợp cần được thực hiện thường xuyên trong quá trình sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu.
Trong bối cảnh sản phẩm thép Việt Nam tiếp tục hiện diện với tỷ trọng đáng kể tại nhiều thị trường, chủ động nhận diện các biến động từ sớm và chuẩn bị đầy đủ hệ thống dữ liệu sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng phối hợp, ứng phó khi phát sinh các vụ việc phòng vệ thương mại, qua đó góp phần duy trì hoạt động xuất khẩu ổn định và bền vững.

