Việt Nam, một trong những nước hiếm hoi mà nền kinh tế định hướng XK, có tốc độ tăng XK dương, trong đó có 9 mặt hàng có kim ngạch tăng, đặc biệt là XK gạo tháng 3 tăng 23,5%, và trong cả 3 tháng tăng 76,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, xem xét kỹ hơn, chúng ta có thể thấy sự cải thiện, nếu có, còn rất mong manh. Đóng góp vào kim ngạch XK của quý I có một khoản đặc biệt, 2,287 tỉ USD xuất đá quý và kim loại quý (mà chủ yếu là vàng). Nếu trừ khoản tái xuất vàng đi thì thành tích xuất siêu sẽ không còn. Đáng lo ngại là trong 13 mặt hàng xuất khẩu chủ lực thì 12 mặt hàng có kim ngạch giảm sút trong quý I ở mức từ 10 đến 20%. Trong mọi trường hợp nhập siêu giảm hay có xuất siêu, chủ yếu là do kim ngạch nhập khẩu (NK) đã giảm rất mạnh. Lý do của sự sụt giảm NK chủ yếu là do giá hàng hoá thế giới giảm, do XK không tăng được như mong đợi, do cầu trong nước giảm. Năm 2008, các khoản NK thiết bị cho các công trình lớn (thí dụ cho Lọc dầu Dung Quất) cũng đã góp phần làm tăng mức độ nhập siêu. Năm nay, các khoản đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước giảm, làm cho NK máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu cũng giảm theo. Có thể nói, xuất siêu của quý I chưa phải là dấu hiệu đáng mừng . Theo đánh giá của ông Antonio Berenguer, Tham tán Thương mại Liên minh châu Âu (EU) tại Việt Nam: “Dù xuất khẩu của Việt Nam có thể giảm sút do sự suy giảm kinh tế toàn cầu, chúng ta cần phải lưu ý rằng, tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, người dân vẫn có nhu cầu về hàng hóa tiêu dùng giá thấp. Hơn nữa, những người tiêu dùng trước đó mua hàng hóa giá đắt có thể chuyển sang mua sản phẩm của Việt Nam với giá rẻ hơn”.
Những vấn đề đặt ra đối với xuất khẩu
Trong nhiều năm qua, Việt Nam là một nền kinh tế định hướng XK và phụ thuộc vào đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nên chúng ta cần phải tiếp tục cải cách toàn diện để nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm. Cụ thể, phải tiếp tục tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế của EU, WTO, đàm phán các thể chế qui định tốt hơn, và nâng cao cải cách trong nước để thu hút đầu tư nhiều hơn. Theo các chuyên gia kinh tế , một số vấn đề chính về XK của Việt Nam cần phải được xem xét, như: chất lượng của sản phẩm, chiến lược marketing, chi phí sản xuất, tuân thủ theo hàng rào thương mại cũng như xử lý các vấn đề về thuế. Thuế đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thu hút FDI. Ví dụ như luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi của Việt Nam sẽ dẫn đến tăng tổng chi phí nhân công cho người nước ngoài làm việc ở Việt Nam, khiến cho Việt Nam kém cạnh tranh so với các nước khác trong khu vực về lĩnh vực này. Về rào cản tiếp cận thị trường tại Việt Nam, việc tự do hóa thương mại hơn nữa có thể dẫn đến sự tăng trưởng trong xuất khẩu của Việt Nam. Tại Diễn đàn Hội nghị doanh nghiệp châu Á diễn ra cuối tháng 4/20009 tại TP. HCM, nhiều người đã khuyên Việt Nam và các nước trong khu vực cần giảm bớt XK, những dự án đầu tư của nước ngoài nên theo hướng đẩy mạnh sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng cao, hạn chế khai thác nguồn tài nguyên... Như vậy, mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài của Việt Nam, đang bị thách thức nghiêm trọng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế. Một tính toán sơ bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tiết kiệm nội địa của Việt Nam so với GDP đã sụt giảm từ 30,6% năm 2006 xuống 29,1% năm 2007 và 28,8% năm 2008, tương ứng với mức gia tăng của tiêu dùng cuối cùng. Điều này có nghĩa là, tỷ lệ thâm hụt tiết kiệm nội địa/đầu tư so với GDP của Việt Nam ngày càng gia tăng, từ mức khoảng -11,7% năm 2006 lên -16,5% năm 2007 và -14,3% năm 2008. Nói một cách đơn giản, Việt Nam đang đầu tư nhiều hơn so với các khoản tiền tiết kiệm được và như vậy là khác với mô hình của các nước ở châu Á như Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia. Theo đánh giá của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), đây là những quốc gia có thặng dư giữa tiết kiệm nội địa so với đầu tư ở mức khá cao. Chỉ số ICOR của Việt Nam cũng thuộc hàng hiệu quả thấp nhất thế giới. Cụ thể là chúng ta phải đầu tư 5% GDP mới có thể tạo tăng trưởng được 1%! Một số đánh giá đã cho rằng, trong lịch sử, gói kích cầu trên thế giới chỉ có 15% số tiền được sử dụng thật sự có hiệu quả kinh tế. Vì vậy, nhìn ở mọi góc cạnh, yêu cầu cải thiện môi trường kinh doanh là cấp bách hơn bao giờ hết.
Tăng trưởng XK có bền vững không?
Khó có câu trả lời cụ thể và chính xác, nhưng có một thực tế, nhiều khi tăng trưởng XK của chúng ta lại do yếu tố giá (tăng). Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng vượt bậc về xuất khẩu (Năm qua, xuất khẩu của Việt Nam chiếm đến 70% GDP; TQ 40% GDP, Ấn Độ 50% GDP). Ở đây chúng ta cần đặt ra 2 câu hỏi: tăng trưởng XK từ đâu trong những năm gần đây và liệu có bền vững không trong tương lai? Ví dụ, gạo đạt 4,5 triệu tấn và có thể XK đạt “đỉnh” 5 triệu tấn, nhưng chiến lược lâu dài thì mục tiêu cũng chỉ dừng ở con số 4 triệu tấn/năm và một số ngành hàng khác cũng tương tự. Theo thông lệ và quy luật kinh tế nói chung, nguồn tăng trưởng XK ổn định nhất cho hầu hết các quốc gia là XK hàng công nghiệp chế biến. Việt Nam chỉ có một vài sản phẩm XK là hàng công nghiệp chế biến và kim ngạch XK của nhóm này lại gia tăng với tốc độ chậm. Nói tóm lại, hầu hết sự tăng trưởng gần đây trong XK của ta là từ nguyên liệu thô. Một vấn đề nhiều người đã cảnh báo từ lâu, là Việt Nam đang trở thành một quốc gia với ưu thế thuộc về các hoạt động thay thế nhập khẩu (NK) có chi phí cao. Nhà máy lọc dầu, phân bón hoá học, các nhà máy thép, hoá dầu và nhiều dự án tương tự sẽ trói buộc và đưa Việt Nam trở thành nơi cung cấp sản phẩm có chi phí cao, không có khả năng cạnh tranh trên các thị trường. Tốc độ tăng trưởng thị trường nội địa nhanh chóng trở thành yếu tố hạn chế sản xuất và tốc độ tăng trưởng này có nhiều khả năng giảm đi nhanh chóng khi XK bị chững lại và gánh nặng trả nợ gia tăng. Song nhìn từ khía cạnh khác, về dài hạn đã bộc lộ sự yếu kém của nền kinh tế, vì chỉ sản xuất được hàng thiết yếu, hay nguyên liệu chưa được chế biến, hàng hóa có giá trị gia tăng thấp, chứ chưa sản xuất được nhiều sản phẩm cao cấp. Bàn về XK hay năng lực cạnh tranh của các mặt hàng XK của Việt Nam cần nhìn nhận một cách tỉnh táo, khách quan. Ý kiến của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức không thể tránh khỏi có phần thiên vị và vì thế, cần có nhiều ý kiến nhận định khác nhau. Một chuyên gia kinh tế nước ngoài đã nhận đinh: "Dù hoạt động xuất khẩu của châu Á có giảm sút, nhưng không đến nỗi đã rớt xuống đáy. Thời gian tới, mọi người sẽ chứng kiến chủ nghĩa bảo hộ có xu hướng tăng lên tại nhiều nước. Các quốc gia nhỏ sẽ phải đối mặt với những khó khăn không chỉ do nguyên nhân trực tiếp là khủng hoảng kinh tế gây nên". Có lẽ, đây là lời cảnh báo có lý.
Xuất khẩu nhìn từ nhiều phía
TCCT
Một số nét về tình hình xuất nhập khẩu đầu năm 2009
Theo Bộ Công Thương, kim ngạch xuất khẩu (XK) hàng hóa của nước ta trong quý I/2009 ước đạt gần 13,5 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2008. Mặc
