Tại Hội nghị ngành Công Thương khu vực phía Bắc lần thứ XII - năm 2026, ông Hoàng Anh Tuấn - Phó Giám đốc Sở Công Thương thành phố Bắc Ninh, trình bày tham luận về phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực doanh nghiệp trong nước và tăng cường kết nối với các chuỗi cung ứng.
Nền tảng công nghiệp mở rộng dư địa phát triển
Theo ông Hoàng Anh Tuấn, sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Bắc Ninh có không gian phát triển công nghiệp rộng hơn, quy mô sản xuất lớn hơn cùng hệ thống khu, cụm công nghiệp tương đối đồng bộ. Toàn tỉnh hiện có 37 khu công nghiệp với tổng diện tích quy hoạch hơn 11.709 ha và 96 cụm công nghiệp được thành lập, tổng diện tích khoảng 3.713 ha. Đây là nền tảng để tổ chức lại không gian sản xuất, hình thành các cụm liên kết ngành và phát triển mạng lưới nhà cung ứng.
Công nghiệp tiếp tục là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế Bắc Ninh. Sáu tháng đầu năm 2026, GRDP của tỉnh tăng 10,56%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 12,55%; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 19,51%, trong khi giá trị sản xuất công nghiệp đạt khoảng 1,6 triệu tỷ đồng. Kim ngạch xuất nhập khẩu đạt khoảng 106,4 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 52,5 tỷ USD, tăng 31,49% và đứng đầu cả nước. Tổng vốn đầu tư thu hút quy đổi đạt trên 9,86 tỷ USD, đưa Bắc Ninh đứng thứ 4 cả nước về thu hút FDI.
Cùng với quy mô sản xuất, hệ sinh thái công nghiệp tại Bắc Ninh ngày càng rõ nét trong các lĩnh vực điện tử, thiết bị điện, cơ khí chính xác, linh kiện, bán dẫn và công nghiệp công nghệ cao. Sự hiện diện của các tập đoàn đa quốc gia và hệ thống doanh nghiệp vệ tinh tạo thị trường ngay tại địa bàn cho nhiều sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, từ linh kiện điện tử, chi tiết cơ khí, khuôn mẫu, vật liệu, bao bì đến thiết bị, tự động hóa và các dịch vụ phục vụ sản xuất.
Tuy nhiên, khoảng cách về công nghệ, chất lượng, chi phí, tiến độ giao hàng, quản trị và tiêu chuẩn chuỗi cung ứng giữa doanh nghiệp FDI với một bộ phận doanh nghiệp Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn là vấn đề cần được giải quyết. Theo đó, yêu cầu đặt ra với Bắc Ninh không chỉ là tiếp tục thu hút đầu tư, mà còn phải nâng chất lượng liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, phát triển thêm các nhà cung ứng Việt Nam, từng bước nâng tỷ lệ giá trị gia tăng được tạo ra trong nước.
Từ hỗ trợ doanh nghiệp đến phát triển nhà cung ứng
Một hướng đi đang được Bắc Ninh đẩy mạnh là gắn hỗ trợ doanh nghiệp với các doanh nghiệp dẫn dắt và yêu cầu cụ thể của chuỗi cung ứng.
Từ năm 2020, Bộ Công Thương, UBND thành phố Bắc Ninh và Samsung Việt Nam triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trên địa bàn. Giai đoạn 2020-2021, chương trình hỗ trợ cải tiến hiện trường sản xuất cho 7 doanh nghiệp. Từ năm 2022, trọng tâm chuyển sang phát triển nhà máy thông minh, với 19 lượt tư vấn cho 16 doanh nghiệp. Qua đó, các doanh nghiệp từng bước nâng cao năng lực quản trị, thúc đẩy chuyển đổi số, cải thiện năng suất, chất lượng và khả năng tham gia chuỗi cung ứng.
Cùng với tư vấn trực tiếp, Bắc Ninh chú trọng đào tạo nhân lực để duy trì và nhân rộng kết quả cải tiến. Cuối năm 2025, Sở Công Thương phối hợp Samsung Việt Nam tổ chức chương trình tập huấn phát triển nhà máy thông minh cho 13 doanh nghiệp, với 24 học viên là lãnh đạo doanh nghiệp, cán bộ kỹ thuật, quản lý sản xuất và cán bộ phụ trách chuyển đổi số.
Ngày 2/7/2026, Bắc Ninh tiếp tục ký Biên bản ghi nhớ hợp tác với Samsung Việt Nam giai đoạn 2026-2030 và trao thỏa thuận hợp tác cho 9 doanh nghiệp tham gia chương trình hỗ trợ doanh nghiệp năm 2026. Giai đoạn mới tập trung vào phát triển nhà máy thông minh, đồng thời mở rộng sang khuôn mẫu thông minh, đào tạo nhân lực và các giải pháp nâng cao năng lực doanh nghiệp.
Từ thực tiễn này, Bắc Ninh xác định kết nối cung - cầu chỉ tạo ra giá trị bền vững khi đi cùng nâng cao năng lực nhà cung ứng. Doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi cung ứng phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, giá thành, tiến độ giao hàng, quản trị, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn kỹ thuật.
Theo đó, tỉnh đang chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang chu trình phát triển nhà cung ứng, gồm khảo sát, sàng lọc, đánh giá năng lực, xác định khoảng cách với yêu cầu của khách hàng, xây dựng lộ trình cải tiến, hỗ trợ trực tiếp tại doanh nghiệp, hỗ trợ tiêu chuẩn và chứng nhận, kết nối với doanh nghiệp dẫn dắt, thử nghiệm đơn hàng và đánh giá kết quả sau hỗ trợ.
Hướng tới hệ sinh thái nhà cung ứng
Năm 2026, Bắc Ninh từng bước hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng bài bản, dài hạn. Ngày 2/7/2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 911/QĐ-UBND phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn thành phố Bắc Ninh năm 2026. Sở Công Thương được giao chủ trì điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2020-2025 và xây dựng Đề án phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035.
Đề án được kỳ vọng trở thành cơ sở lựa chọn ngành, sản phẩm, chuỗi cung ứng và nhóm doanh nghiệp ưu tiên, qua đó cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và nguồn lực thực hiện. Cùng với đó, Sở Công Thương đang tham mưu xây dựng Nghị quyết của HĐND tỉnh quy định mức chi cụ thể cho hoạt động phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo cơ sở pháp lý bố trí và sử dụng ngân sách địa phương.
Về mặt bằng sản xuất, Bắc Ninh định hướng dành tối thiểu 20 ha hoặc 5% tổng quỹ đất đã đầu tư kết cấu hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp để tạo điều kiện cho doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo thuê.
Trong giai đoạn tới, trọng tâm được chuyển từ “hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ” sang “phát triển hệ sinh thái nhà cung ứng”, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và nhu cầu thực tế của chuỗi cung ứng làm căn cứ lựa chọn nhiệm vụ hỗ trợ. Bắc Ninh đồng thời định hướng thu hút đầu tư vào những công đoạn, nhóm sản phẩm và công nghệ còn thiếu trong chuỗi; ưu tiên điện tử, bán dẫn, công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp công nghệ cao, cơ khí chính xác, khuôn mẫu và tự động hóa.
Tỉnh cũng sẽ nhân rộng mô hình tư vấn chuyên gia tại nhà máy, tăng cường hợp tác với Samsung và các doanh nghiệp dẫn dắt để đánh giá năng lực, cải tiến sản xuất, nâng cao năng suất, chất lượng và quản trị. Các doanh nghiệp được định hướng tiếp cận ISO, IATF, Lean, Kaizen, tự động hóa, chuyển đổi số, nhà máy thông minh, truy xuất nguồn gốc, thử nghiệm, đo lường, kiểm định, chứng nhận và đổi mới máy móc, thiết bị.
Đáng chú ý, Bắc Ninh định hướng thay đổi cách đánh giá hiệu quả chương trình. Thay vì chỉ tính số hội nghị, khóa đào tạo hay lượt doanh nghiệp tham gia, hiệu quả sẽ được thể hiện qua số doanh nghiệp được nâng cấp năng lực, số doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn khách hàng, số nhà cung ứng mới, giá trị đơn hàng phát sinh, mức tăng năng suất, giảm lỗi, tiết kiệm chi phí và mức độ chuyển đổi số sau hỗ trợ.
Mục tiêu cuối cùng là gia tăng số doanh nghiệp Việt Nam đủ năng lực trở thành nhà cung ứng; tăng tỷ lệ linh kiện, vật liệu, khuôn mẫu và thiết bị được sản xuất trong nước; đồng thời làm sâu sắc hơn liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam, qua đó nâng cao giá trị gia tăng tạo ra trong nước.
