Mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và phát triển công nghiệp
Môi trường, sức khỏe của con người đang ngày càng trở nên quan trọng với tất cả các quốc gia trên thế giới. Môi trường, sức khỏe là tiêu chí quan trọng để đánh giá trình độ văn minh của mỗi quốc gia, là điều kiện quan trọng cho mỗi quốc gia khi tham gia hội nhập, buôn bán thương mại trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới. Ngày nay, phát triển kinh tế, xã hội luôn gắn chặt với bảo vệ sự bền vững về môi trường.
Trong những năm qua, sản xuất công nghiệp luôn duy trì ở mức tăng trưởng cao, nhất là khu vực công nghiệp ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2004, ngành Công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng xấp xỉ 15%, nâng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng trong GDP từ 39,9% năm 2003 lên 40,1%. Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển mạnh mẽ đó vấn đề ô nhiễm nôi trường công nghiệp ngày càng gia tăng và đã trở nên đáng báo động. Nhận thức được vấn đề này, Đảng và Nhà nước nói chung, ngành Công nghiệp nói riêng đã có những chủ trương,chính sách, biện pháp để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững nền kinh tế đất nước.
Ngày 15/11/2004, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 41-NQ/TW về bảo vệ môi trường. Ngày 22/02/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị. Để thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về BVMT, Bộ Công nghiệp đang tích cực triển khai các họat động BVMT ngành công nghiệp, đồng thời xây dựng Chương trình hành động của ngành Công nghiệp với mục tiêu cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhằm ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường trong hoạt động công nghiệp; sử dụng có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nâng cao ý thức BVMT trong cán bộ công nhân viên toàn Ngành, thực hiện phát triển công nghiệp bền vững và tạo thuận lợi cho tiến trình hội nhập.
Một số nội dung trong Chương trình hành động của ngành Công nghiệp về hoạt động BVMT.
1- Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT.
Phổ biến Nghị quyết cho toàn thể cán bộ viên chức cơ quan Bộ Công nghiệp. Tổ chức hội nghị/hội thảo giới thiệu và phổ biến Nghị quyết đến các cơ quan chủ chốt thuộc Đảng bộ Bộ Công nghiệp, Đảng bộ các khối công nghiệp Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Đưa tiêu chí BVMT vào xét thi đua khen thưởng, trước mắt, xây dựng và áp dụng tiều chí về môi trường trong việc đánh giá, xét chọn các giải thưởng KHCN, danh hiệu thi đua trong họat động sản xuất kinh doanh; Xây dựng văn hóa môi trường trong sản xuất kinh doanh.
2 - Tăng cường công tác BVMT trong hoạt động công nghiệp
Phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng các văn bản pháp luật, xây dựng và ban hành các thông tư liên bộ để hướng dẫn triển khai công tác BVMT, phân công, phân cấp quản lý môi trường trong các cơ quan và các TCT, Cty thuộc Bộ Công nghiệp. Trước mắt, tập trung vào một số nhiệm vụ sau: Xây dựng và ban hành chiến lược, Quy chế BVMT ngành Công nghiệp cũng như xây dựng chức năng nhiệm vụ cho các đầu mối chuyên trách về quản lý môi trường của Bộ Công nghiệp…
3-–Thể chế hóa yêu cầu BVMT trong việc lập, thẩm định và phê duyệt và tổ chức thực hiện chiến lược quy hoạch, kế hoạch chương trình dự án phát triển công nghiệp đến 2010.
- Xây dựng và cụ thể hóa các tiêu chí phát triển bền vững ngành Công nghiệp áp dụng cho doanh nghiệp.
- Rà soát, điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển ngành Công nghiệp đáp ứng các yêu cầu BVMT và phát triển bền vững…
4- Tăng cường các nguồn lực tài chính tạo sự chuyển biến căn bản trong đầu tư BVMT.
- Bộ Công nghiệp chủ trì phối hợp hợp với Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng thể chế đưa hạch toán chi phí môi trường vào chi phí sản xuất; áp dụng thử nghiệm mô hình hạch toán chi phí môi trường tại các Tổng Công ty Than, Điện lực, Dầu khí. Hoàn thiện và phổ biến rộng rãi cơ chế hạch toán mới, tạo nguồn đầu tư căn bản và chủ động cho BVMT trong doanh nghiệp…
5 - Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao ứng dụng công nghệ và đào tạo nhân lực BVMT, tiến tới hình thành và phát triển ngành công nghiệp Môi trường.
- Nghiên cứu các công nghệ phù hợp trong xử lý nước thải ngành dệt nhuộm, giấy, hóa chất, cơ khí mạ và chế biến lương thực, thực phẩm đáp ứng chỉ tiêu chất lượng và giá thành và vận hành ở Việt Nam.
Nghiên cứu áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn phù hợp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
- Xây dựng chương trình ưu tiên ứng dụng công nghệ sạch và các ngành công nghiệp hướng tới mục tiêu tiếp cận các định mức công nghệ tiên tiến trên thế giới về BVMT.
- Nghiên cứu mô hình thu gom chất thải rắn công nghiệp trong các cơ sở công nghiệp ở Việt Nam. Nghiên cứu cơ hội tái chế và sử dụng chất thải của các ngành công nghiệp bằng các giải pháp kỹ thuật…
6 - Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về BVMT
- Phổ biến các nội dung cam kết/điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia tới doanh nghiệp, khuyến khích/xây dựng chế tài để các doanh nghiệp cam kết thực hiện; xây dựng các kênh thông tin về hội nhập để doanh nghiệp tham khảo.
- Xây dựng chương trình hợp tác và thu hút đầu tư vào lính vực BVMT ngành Công nghiệp.
- Tăng cường các chương trình trao đổi chuyên gia, đào tạo ngoài nước với các tổ chức quốc tế, nhằm hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho công tác BVMT ngành Công nghiệp.
- Hình thành một số chương trình hợp tác dài hạn về sản xuất sạch hơn, công nghệ sinh học phục vụ BVMT…
7 - Quản lý ô nhiễm và quản lý chất thải.,
- Xây dựng chương trình phổ biến công nghệ tốt nhất hiện có (BAT), nhằm định hướng cải tiến và đổi mới công nghiệp giảm thiểu chất thải.
- Thực hiện di dời và xử lý các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng theo lộ trình tại Quyết định 64/CP.
- Ban hành các quy định về nội dung lồng ghép BVMT, định hướng chuyển đổi công nghệ/sản phẩm theo hướng thân thiện với môi trường ngay từ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các dự án phát triển, nhằm hạn chế ngay từ đầu các nguồn thải mới.
- Triển khai đề án hạn chế và giảm dần việc sử dụng các hóa chất độc hại và bao bì làm từ nguyên liệu khó phân hủy, thay thế bằng các nguyên liệu thân thiện môi trường.
- Xây dựng chương trình quản lý chất thải rắn và khắc phụ ô nhiễm tại các khu công nghiệp và khu chế xuất.
- Triển khai kế hoạch xử lý và giảm thiểu ảnh hưởng của nước thải công nghiệp tại các cụm điểm công nghiệp ở địa phương, làng nghề.
- Chương trình phục hồi và hoàn nguyên các mỏ khai thác khoáng sản, chống ô nhiễm và sói mòn đất.
8 – Khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Xây dựng chiến lược tiêu dùng bền vững công nghiệp.
- Định hướng chuyển đổi cơ cấu công nghiệp theo hướng tiết kiệm và tăng hiệu quả dựa trên việc sử dụng tổng hợp tài nguyên và gia tăng hàm lượng chất xám trong sản phẩm.
- Xây dựng và triển khai chương trình tiết kiệm năng lượng trong hoạt động công nghiệp.
- Xây dựng chương trình định hướng phát triển cơ chế sạch (CDM) trong các ngành công nghiệp.
9 - Đẩy mạnh xã hội hóa họat động BVMT.
Xây dựng các quy chế cho phép cộng đồng tham gia giám sát hoạt động công nghiệp thông quan hình thức ký cam kết giữa doanh nghiệp và cộng đồng địa phương.
Tổ chức thực hiện.
- Thành lập Ban chỉ đạo triển khai Nghị quyết 41 của Bộ Công nghiệp.
- Phổ biến sâu rộng tinh thần Nghị quyết đến từng Đảng viên, cán bộ cơ quan Bộ Công nghiệp.
- Từng ngành cụ thể hóa các chương trình hành động của Bộ và đăng ký kế hoạch thực hiện gửi về Bộ, Ban chỉ đạo sẽ kiểm tra đôn đốc việc thực hiện và báo cáo tiến độ thực hiện với Bộ trưởng./.
